Nếu phải nói về bản thân...



Ngô thị Thu Thủy

17/11

Giáo viên

Thạc sỹ văn chương

Phật tử tại gia

Đọc sách trồng hoa làm bánh ngắm trẻ con du lịch một mình




**************************************************************************************
Hiển thị các bài đăng có nhãn Là cô giáo.... Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Là cô giáo.... Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2011

Lời giới thiệu Hồng Lâu Mộng


Trong lịch sử văn học Trung Quốc. Hồng Lâu Mộng có một vị trí đặc biệt. Người Trung Hoa say mê đọc nó, bình luận về nó(1), sáng tác về nó đến nỗi nói: “Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng, Độc tận thi thư diệc uổng nhiên!” (Mở miệng mà không nói Hồng Lâu Mộng thì đọc hết cả thi thư cũng vô ích!). Có một ngành học chuyên nghiên cứu về Hồng Lâu Mộng, gọi là Hồng học; gần đây nhất vẫn thấy Trung Quốc in chuyên san “Hồng Lâu Mộng nghiên cứu”. - Có lẽ trên thế giới chỉ có Shakespeare là có một vinh dự lớn lao như thế, vì có “Shakespeare học”. Cái gì làm người Trung Quốc say Hồng lâu mộng “như điếu đổ” vậy? Trước hết, đó là do tác phẩm đáp ứng những nhu cầu sâu xa của thời đại. Thời nhà Thanh, dưới thời các hoàng đế Ung Chính, Càn Long (1723 - 1795) là thời kinh tế phồn vinh, chẳng những công nghiệp, thủ công nghiệp, mà cả khai thác mỏ, thương nghiệp...cũng phát triển mạnh mẽ. Các thành thị lớn như Nam Kinh, Dương Châu, Võ Xương, Nhạc Châu... buôn bán, sản xuất sầm uất là những đô thị lớn. Chỉ kể một thị trấn như Thanh Giang bên bờ Vận Hà thôi mà thời đó đã có hơn nửa triệu dân! Nền kinh tế tự phát tư bản chủ nghĩa đó trong lòng xã hội phong kiến chuyên chế mọt ruỗng và đang trên đà tan rã, đã đẻ ra một tầng lớp người thành thị, những người này có những nhu cầu thẩm mỹ mới. Tây Sương Ký, Mẫu đơn đình, Cổ kim tiểu thuyết, Liêu Trai... là những tác phẩm tả tình yêu, những số phận, những buồn vui cá nhân..., chính là sự “thăng hoa” của cuộc sống đã bắt đầu khác trước về chất của người thành thị. Hồng lâu mộng là sự thể hiện những tư tưởng của thời đại: tinh thần dân chủ, tinh thần phê phán đời sống xã hội phong kiến mục nát, phê phán những giáo điều truyền thống đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm, đòi tự do yêu đương, giải phóng cá tính, đòi tự do bình đẳng, khát khao một lý tưởng cho cuộc sống...Tất cả những cái đó có những mặt kế thừa tư tưởng dân chủ thời Minh và đầu Thanh, nhưng nó chính là sản phẩm của ý thức tư tưởng thị dân đương thời. Giữa những khát vọng sâu xa ấy của con người thời đại và sự biểu hiện nó ra một cách nghệ thuật, đã có một cuộc hẹn hò tuyệt diệu qua Hồng Lâu Mộng. 

o0o 
Tác giả chính của Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần 1716(?) - 1763(?) giống như phần lớn các nhà văn lớn Trung Hoa trong lịch sử, viết văn là để giải tỏa nỗi niềm “cô phẫn”, là để ký thác những suy tư về con người và thời đại. Ông vốn sinh ra trong một gia đình đại quý tộc. Từ đời tằng tổ đến đời cha, thay nhau tập chức “Giang ninh chức tạo” là một chức quan to thu thuế. Năm lần vua Khang Hy tuần du phương Nam thì bốn lần ở lại nhà họ Tào, đủ biết sự sủng ái của nhà vua với gia đình ông ra sao ! Và cũng có thể đoán biết cuộc sống trong phú Giang hồi đó xa hoa, vương giá như thế nào ! Trong Hồng Lâu Mộng, Nguyên phi về thăm nhà có một buổi mà nhái xây cất bao nhiêu đình tạ trong vườn Đại quan, nữa là hoàng đế tuần du ngự đến nhà.Nhà ông chăng những là hào môn vọng tộc hiển hách như thế, lại còn có truyền thống văn chương. Ông nội ông, Tào Dần, đứng in bộ "Toàn Đường Thi trứ danh, và là một nhà thơ, tác giả "Luyện đình thi sao”. Nhưng cuộc sống vàng son đó của gia đình ông đã trôi qua, đã tan vỡ. Lúc Tào Tuyết Cần lớn lên thì tất cả đã ở đằng sau rồi: cha bị khép tội, bị cách chức, bị tịch biên gia sán, nhà họ Tào suy sụp và ông phải về sống ờ vùng ngoại ô phía tây thành Bắc Kinh trong cảnh: “cả nhà rau cháo, ruợu thường mua chịu”. Hồng Lâu Mộng do đó có thể xem là phản quang những hồi ức của Tào Tuyết Cần về cuộc sống quý tộc đã tan vỡ đó. Một mặt, đó là sự nhớ tiếc khôn nguôi những huy hoàng của vàng son lộng lẫy, cảm thấy tất cả nhuốm màu thê lương, hư vô, tất cả đều xê dịch về phía bế tắc, hủy diệt, tất cả đều đáng ân hận, và chỉ có thể cứu chuộc bằng Hư Vô, bằng siêu hình, bằng tôn giáo! Nhưng mặt khác, từ trong cuộc sống nghèo khó hôm nay, quay đầu nhìn lại thì cái khoảng cách lớn lao đó làm cho ông thấy được rõ hơn, khách quan hơn, bình tĩnh hơn những gì ông đã thấy, đã nếm trái về cuộc sống thối nát của giai cấp quý tộc và sự miêu tả khách quan "những quan hệ hiện thực” này làm ông trở thành một nhà hiện thực. Chí ít thì về mặt đó, ông đã lay chuyến được "niềm lạc quan về cái trật tự hiện tồn", và như thế, ông là sản phẩm của một thời đại, đồng thời đã nhìn xa hơn thời đại. Tào Tuyết Cần đề 10 năng dế viết 80 hồi đầu, Hồng Lâu Mộng: “Xem ra chữ toàn bằng huyết, cay đắng mười năm khéo lạ lùng”; năm lần sửa chửa, trong cảnh cùng khốn, ốm đau không tiền chạy thuốc, trong cánh đứa con yếu của ông chết. Và ông đã lìa đời trong cảnh đau khố dồn dập đó. Bình sinh, ông vẽ giỏi, hay thơ, thích rượu, cuồng phong. Người ta chỉ biết được về ông có thế thôi! Hai mươi tám năm sau khi ông mất, Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi, đến khoáng 1792 - 1793 thì Hồng Lâu Mộng được in và lưu truyền khắp trung Quốc. Những hồi Cao Ngạc viết tiếp thì không thể hay bằng những hồi Tào Tuyết Cần viết, nhưng cũng phải nói là Cao Ngạc đã sống với tác phẩm và tri âm tác giả, nên đã hoàn thành dự định của Tào Tuyết Cần và nối tiếp bút lực của người đi trước, hoàn thành và bộc lộ trọn vẹn tư tưởng của tác phẩm, khiến cho tác phẩm vẫn giữ được vẻ hấp dẫn mãnh liệt.(2) 

BI KỊCH TÌNH YÊU VÀ Ý NGHĨA TÌNH YÊU TRONG HỒNG LÂU MỘNG 
Câu chuyện tình giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc xuyên suốt qua toàn bộ tác phẩm, làm nên chủ đề chính của cuốn tiểu thuyết vĩ đại này. Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, hai anh em cô cậu ruột, cùng ở chung một nhà từ bé; lớn lên, vì Bảo Ngọc được bà nội nuông chiều, riêng cho ở trong vườn Đại quan cùng với đám “quần thoa”, nên anh ta và Đại Ngọc gần gũi nhau. Nhưng đây không phải là câu chuyện “lửa gần rơm...”. Đây cũng không phải chỉ là câu chuyện “tài tử giai nhân là nợ sẵn”. Tình yêu của họ còn có nguyên cớ sâu xa hơn nhiều; họ nói như Saint Exupéry: “Yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng”, nghĩa là họ “đồng điệu”, “tri âm” lẫn nhau trên những vấn đề có ý nghĩa cuộc sống. Nói cho đúng, lúc đầu Bảo Ngọc cũng còn có chút phân vân. Anh ta sống giữa đám a hoàn nhan sắc, những Tập nhân, Tình văn... những người này là những phụ nữ xuất thân từ tầng lớp dưới, được họ Giả mua về hầu hạ, nhưng đó là những người có tình, có phẩm chất tốt đẹp. Họ chính là mót bức màn ngăn bụi trần của phủ Vinh quốc đầy dẫy những hạng đàn ông ô trọc. Bảo Ngọc cảm nhận được thực chất vị tha, quên mình đầy dịu dàng của họ, anh ta như một người được vây bọc bởi sự tận tụy, thương yêu... của những nữ tỳ - đồng thời cũng là “nữ thần” này. Do đó không lạ gì mà Bảo Ngọc đã nêu lên cái “nguyên lý nữ tính” rất xa lạ với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của xã hội phong kiến: “Xương thịt con gái là nước kết thành. Tôi trông thấy con gái thì người tôi nhẹ nhàng, khoan khoái, thấy con trai thì như bị phải hơi dơ bấn”. Trong phủ Giả lúc đó còn có cô em họ Tiết Bảo Thoa ở nhờ. Bảo Thoa đẹp, đức hạnh, nết na theo đúng nếp nhà phong kiến. Bảo Ngọc cũng mến Bảo Thoa, gần nàng, anh chàng đôi lúc cũng thấy xiêu xiêu, quả có như lời Lâm Đại Ngọc “gần cô chị thì quên khuấy cô em”! Nhưng rồi dần dần, Bảo Ngọc chỉ yêu có Đại Ngọc thôi. Đại Ngọc kiều diễm, yếu đuối, là một tâm hồn dễ cám xúc, một tâm hồn nhạy cảm và phong phú - đó là một tâm hồn thơ đích thực; và đó là điều mà họ gặp nhau. Quan trọng hơn, là trong khi cả nhà chờ mong Bảo Ngọc học giỏi thi đỗ, làm quan giữ nếp nhà…, thì Bảo Ngọc lại chán ngấy cái con đường mòn nhàm chán đó, và người hiểu anh duy nhất là Đại Ngọc. Bảo Ngọc, chàng trai được nhốt trong cái lồng kính quý tộc đầy cao lương gấm vóc, anh ta được người ta dùng gia giáo, thi giáo, lễ pháp... để ràng buộc theo con đuờng vạch sẵn. Giả Bảo Ngọc bị mất tự do, và anh ta cảm thấy sâu sắc điều đó, nên lúc nào anh ta cũng vùng vẫy tìm lối thoát, tìm cách phán kháng lại. Như một con chim khao khát trời xanh rộng lớn bị nhốt vào cái lồng vàng chật hẹp, Giả Bảo Ngọc sống không yên ổn. Anh lục lọi sách vở, đi vào triết học cổ, đi vào “tham thiền ngộ đạo” …nhưng những cái đó không cung cấp được cho anh một vũ khí tư tưởng nào để tự giải phóng! Mà thực ra, thì anh cũng lẩn quẩn, loanh quanh; anh ta là một sản phẩm đầy mâu thuẫn của một xã hội cũng đang chứa đầy mâu thuẫn, một xã hội đang tìm lối ra nhưng không có lối ra. Rốt cuộc, anh ta tỏ thái độ hoài nghi những gì “thánh hiền” đã viết, đã soạn, cho đó là “soạn bậy”, là “bịa”, là “nói tầm bậy”. Đối với đạo đức phong kiến mà cái cao nhất là “tôi trung con hiếu”, “sát thân thành nhân”, anh ta dám nói những lời “cách mệnh”: “Nhũng bọn mày râu dơ bẩn, chỉ biết “quan văn chết vì lời can gián, quan võ chết vì đánh giặc”, là hai cái chết của kẻ đại trượng phu, thành ra chỉ làm rối lên, nào có biết đâu có vua ngu mới có bầy tôi chết vì lời can gián; chỉ lo ra công đánh giặc, liều mình hy sinh, tương lai sẽ bỏ nước cho ai. Thật là lời lẽ của ké “đại nghịch vô đạo”. Tất nhiên, nói cho công bằng, đó là một đôi ý nghĩ đột xuất của anh chàng này, còn như bình thường, anh ta vẫn phải nép mình trong lồng cũi tuân phục “di huấn thánh nhân”. Trong hoàn cánh đó, Lâm Đại Ngọc đã đến. Họ đã đến với nhau không dễ dàng. Đại Ngọc vì gia cảnh đến ở nhờ trong phủ họ Giả, tuy là cháu ngoại đấy, nhưng vẫn bị Giá mẫu xem là “người ngoài”: “nữ nhân ngoại tộc”. Cái mặc cảm “ăn bám ở nhờ” luôn luôn làm nàng đau khổ - nàng vốn là người nhiều tự ái là người nhạy cảm, khó hòa hợp với chung quanh và do đó cô đơn. Tình cảnh của nàng còn bi đát hơn Bảo Ngọc nhiều, vì nàng là con gái, là phận ở nhờ, mà trong cái xã hội ghê khiếp ấy, thì nàng chẳng là cái gì cả, nàng chỉ là một cánh bèo dạt, một cánh hoa rơi! Cho nên nàng thương hoa, khóc hoa, chôn hoa, cho nên nàng luôn buồn thương vô hạn. Tâm hồn nàng như một sợi tơ đàn mảnh mai, bất kể một giọt mưa thu hay tơ liễu bay đều âm vang một điệu buồn đứt ruột! Cái yếu đuối, cái “đa sầu đa cảm” của nàng cũng là một nét tính cách riêng nhưng xuất phát từ những điều kiện của thời đại. Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc đã đến với nhau như thế và đã đến với nhau rồi, hiểu lòng nhau rồi, họ vẫn sống những ngày tháng không yên. Trong tình yêu này, họ chưa được hưởng bao nhiêu hạnh phúc; chưa nếm mật ngọt tình yêu, họ đã linh cảm thấy mật đắng của đời! Họ luôn luôn bị bủa vây trong trùng điệp của mạng lưới phong kiến. Họ không phải là người quyết định được tình yêu của mình. Cuối cùng, Giả mẫu và bọn phu nhân trong phu họ Giả đã quyết định! Họ đã chọn Tiết Bảo Thoa cho Bảo Ngọc. Và một khi đã chọn, họ đã nhẫn tâm theo kế “đánh tráo” của Phượng Thư. Bảo Ngọc cứ yên trí là “cưới em Lâm”, hóa ra lúc giở khăn che mặt, lại là Bảo Thoa; Bảo Ngọc lúc bấy giờ mới bật ngửa, mà Lâm Đại Ngọc thì sau cơn ốm nặng, đã chết trong niềm đau đớn, oán hận bằng đốt thơ, đốt khăn tặng trong lúc cả nhà mừng đám cuởí của người mình yêu! Kết thúc tấn bi kịch này, Bảo Ngọc trốn nhà đi tu; và Bảo Thoa làm một người góa phụ trẻ đau khổ.

THI PHÁP NHÂN VẬT HỒNG LÂU MỘNG 
Hồng Lâu Mộng không những đã đưa lại một nội dung mới mang ý nghĩa thời đại; nó còn làm được một việc vĩ đại nữa là đổi mới thi pháp tiểu thuyết Trung Quốc. Lỗ Tấn nói: “Từ khi Hồng Lâu Mộng ra đời, tư tưởng và cách viết truyền thống đã bị phá vỡ”. Tiểu thuyết Trung Quốc trước đây, chủ yếu là tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc, Thủy hử, Tây du. .. thiên về mô tả hành động, miêu tả hoạt động bên ngoài và lời nói của nhân vật. Con người trong những tiểu thuyết đó, sản phẩm của một nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất phương thức sản xuất châu á, có bề giản đơn, nhất quán trong một tính cách, rạch ròi trung, nịnh đôi đường. Những truyện ngắn “truyền kỳ”, những truyện ngắn trong Liêu Trai đã bắt đầu thấm đẫm màu sắc con người thị dân với những khát vọng nồng nhiệt hơn, phức tạp hơn nhưng vẫn chứa có một thi pháp tiểu thuyết thực sự phản ánh một cách nhìn mới về con người. Hồng Lâu Mộng đã làm được việc đó. Dĩ nhiên là trong những hạn chế gay gắt của thời đại. Dù cho có những nhân tố tư bản chủ nghĩa, nhân tố kinh tề hàng hóa, thị trường, thành phố, thị dân... xã hội Trung Quốc vẫn là xã hội phong kiến, và cái con người “mới” mà người ta chờ đợi đó đã xuất hiện chưa hoàn chỉnh; thi pháp tiểu thuyết trong Hồng Lâu Mộng đã mang một số nhân tố mới của tiểu thuyết cận đại phương Tây, nhưng nó không thể đi xa hơn nũa. Nó vẫn còn bị giam mình trong cái khung tiểu thuyết chương hồi truyền thống, lấy “kể việc” làm phương tiện chủ yếu khám phá của con người. Nhưng, xét cho kỹ thì phải ghi nhận những yếu tố mới ở Hồng Lâu Mộng là rất có ý nghĩa. Trước hết, đó là cách nhìn con người trong sự phát triển đầy mâu thuẫn, sự phát triển biện chứng, có chiều sâu đầy kịch tính. Số phận và tính cách của Bảo Ngọc đã được tác giả miêu tả không đơn giản. Đó là mâu thuẫn gĩưa khát vọng tự do và sự ràng buộc nặng nề của gia đình và xã hội phong kiến. Đó là tình yêu chân thành và quý báu như chính sinh mệnh của anh ta và lạ thay, anh ta hầu như chẳng làm được gì, chẳng chiến đấu dũng manh gì để đoạt lấy hạnh phúc! Mọi việc gần như đã phó mặc! Trước khi chết, Lâm Đại Ngọc oán giận, đau buồn đốt khăn tặng, đốt tập thơ..., không phải là không có lý! Anh ta chưa bao giờ xứng đáng là một trang “tu mi nam tử” có lý tưởng, kiên định! Vấp phải những mâu thuẫn nghiệt ngã của thời đại, anh ta sinh ra đau thần kinh, mắc chứng “ngây”, cứ cười hì hì suốt ngày. Điều đó càng đẩy sâu anh ta vào bi kịch. Cuối cùng giải pháp “đi tu” - phản ánh sự từ chối, sự phản kháng dầu yếu ớt - đã được anh ta chọn lựa. Đi thi và thi đỗ cao để an ủi gia dình, rồi bó trốn đi tu, Bảo Ngọc đã đi hết sự phát triển tính cách một cách hợp lý và quả là qua số phận anh ta, như một số nhà nghiên cứu nhận định, có sự gởi gắm, có sự thể hiện một phần nào bản thân tác giả. Đó đúng là một số phận tiểu thuyết theo ý nghĩa hiện đại của từ này. Lâm Đại Ngọc là một tính cách thú vị khác. Nàng yêu Bảo Ngọc, nhưng do thân phận của nàng, mỗi khi Bảo Ngọc ngỏ lời là nàng lại giận hờn, buồn tủi, làm ra vẻ cự tuyệt... “Bảo Ngọc cười nói: - Tôi là người nhiều sầu, nhiều bệnh, cô là trang nghiêng nước nghiêng thành.(3) Đại Ngọc nghe thấy câu ấy, mặt và tai đỏ bừng lên, lập tức dựng ngược lông mày, như cau lại mà không phải là cau, trố hai con mắt, như trợn mà không phải trợn. Má đào nổi giận, mặt phấn ngậm hờn, trỏ vào mặt Bảo Ngọc: - Anh nói bậy, muốn chết đấy! Dám đem nhũng lời lẳng lơ suồng sã lăng nhăng để khinh nhờn tôi! Tôi về mách cậu mợ đấy”. (tập I) Điều đó làm cho nàng trở nên đáng yêu và tội nghiệp, làm cho nàng trở nên nhiều nữ tính hơn. Không một nét giả dối, nàng là một nhân vật đã hiện ra với chiều sâu tâm lý đa dạng, được bộc lộ qua tình yêu, qua những quan hệ khác. Phút cuối cùng nàng nghe nói Bảo Ngọc sắp lấy vợ, và người được chọn sẽ là người trong phủ, nàng chắc mẫm người đó sẽ là mình, chứa chan hy vọng, và từ đau buồn tuyệt vọng, trong ốm đau, nàng trở lại sống linh hoạt, tươi đẹp... Ai hay đó là phút nàng ở gần sự kết thúc nhất. Những cảnh như vậy làm cho nhân vật thực, gần gũi, phong phú, hấp dẫn.... và về mặt soi rọi tâm lý nhân vật, đã đạt đến trình độ của nhân vật tiểu thuyết hiện đại. Hồng Lâu Mộng có tất cá 235 nhân vật đàn ông, 213 nhân vật dàn bà (một khối lượng nhân vật khổng lồ! – trong Chiến tranh và hòa bình có chừng 500 nhân vật). Làm chủ chừng ấy nhân vật, miêu tả, cá tính hóa họ một cách có hiệu quả là một sáng tạo phi thường. Trong số đó, nổi bật lên sự mô tả và xây dựng nhân vật Tiết Bảo Thoa. Tiết Bảo Thoa là một tính cách gần như đối nghịch với Lâm Đại Ngọc, Giả Bảo Ngọc; chính những nhân vật trong Hồng Lâu Mộng đã phát triển trong sự đối nghịch như vậy, làm cho cuốn tiểu thuyết có nhiều gương mặt, nhiều hợp âm. Tiết Bảo Thoa là một nhân vật phụ nữ lý tính. Nàng còn ít tuổi mà đầy bản lĩnh, ở nàng tất cả đều đúng mực, hợp lý, lô-gích, nàng là hiện thân của nguyên lý đạo đức phong kiến. Bao giờ nàng cũng là một người con gái sống cho gia đình, sống cho ý định người khác - và ý định đó luôn được nàng chấp nhận vì đó cũng chính là của nàng. Sự hòa hợp giữa nàng và gia pháp phong kiến là điều hoàn toàn tự nguyện. Nàng là người có học, xem nhiều sách, biết làm thơ, nhưng hãy nghe nàng tâm sự (cũng là răn đe Đại Ngọc): “Bọn con gái chúng ta không biết chữ càng tốt... Ngay đến cả việc làm thơ, viết chữ đã không phải là phận sự chị em mình, mà cũng không phải phận sự của bọn con trai nữa. Người con trai đọc sách nhiều phải hiểu nghĩa lý để ra giúp dân trị nước mới đúng...”(tập III). Với Bảo Ngọc, một người không yêu nàng, nhưng nàng theo sự sắp đặt của bề trên, lấy Bảo Ngọc không một chút tự ái; nàng làm bổn phận của người vợ, khuyên giải chồng, “lý sự” với chồng: “... chứ bây giờ gặp đến vua thánh, nhà ta mấy đời đội ơn triều đình, cha ông được hưởng biết bao sung sướng...”(tập IV). Nếu nói “bản chất” và “bản lĩnh” giai cấp thì quả nàng là hiện thân của giai cấp. Nàng có ác không? Có. Khi con hầu Kim Xuyến nhảy xuống giếng tự tử, Vương phu nhân cảm thấy lương tâm cắn rứt, nhưng nàng thì không, nàng tươi cười, an ủi đổ lỗi cho Kim Xuyến và nói: “Dì cũng chẳng nên lo lắng buồn bã làm gì, chỉ cần cho vài lạng bạc làm ma cho nó là trọn tình chủ tớ rồi”. Nàng có giả dối không? Có. Nàng đã bày kế “ve sầu lột xác” để đánh lừa bọn con hầu, tránh điều bất lợi cho mình. Bảo Thoa lúc nào cũng tỉnh táo, cũng lắm mẹo! Nhưng nàng có đáng thương không? Nàng ít nhiều cũng yêu Giả Bảo Ngọc mà tự kiềm chế, và cuối cùng, với tất cả sức lực và nghị lực, với tất cả sự chân tình, nàng muốn có hạnh phúc trong cuộc sống phong kiến với Bảo Ngọc, nhưng rốt cuộc nàng cũng trở thành một nhân vật bi kịch. Bi kịch của nàng là bi kịch của một người trung thành với đạo đức phong kiến. Gần với tính cách của Tiết Bảo Thoa là Vương Hy Phượng. Đó cũng là một nhân vật nữ hết sức đặc sắc nữa. Những nhân vật như thế làm chúng ta nhớ nhiều đến Hoạn Thư của Nguyễn Du. Đó là sự miêu tả trung thành với bản chất củaa hiện thực, bản chất của những mối quan hệ phong kiến, đồng thời nó là một sự cá tính hóa hết sức sâu sắc. Ngoài ra con biết bao nhiêu nhân vật đáng lưu ý nữa trong cái thế giới bao la của Hồng Lâu Mộng. Dường như đó là cả một nhân loại: trong đó có hàng trăm số phận, và mỗi số phận đưa đến cho chúng ta một mảnh đời, một suy nghĩ về nhân thế. Nhà lý luận tiểu thuyết nổi tiếng Bakhtin có nói rằng nhân vật tiểu thuyết phải có phần “dư thừa nhân tính”. Có nghĩa là nhân vật, ngoài vai trò xã hội (đẳng cấp, nghề nghiệp) phải có cái phần dư thừa nhân tính, cái phần nhu cầu nhân tính, cái phần cá tính tự do mà tấm áo xã hội không chứa đựng hết. Nhân vật của Hồng Lâu Mộng vừa là giai cấp xã hội vừa là những nhân vật mang tính người, tính toàn nhân loại, ở trong họ có cái phần “người” và những nhân vật như vậy bao giờ cũng là một phát hiện, có sức hấp dẫn rất mạnh. * Hồng Lâu Mộng là cả một thế giới. Thông qua cuộc sống từ thịnh đến suy của một gia đình quý tộc, tác giả đã làm hiển hiện sự băng hoại của xã hội phong kiến, của nhân tính phong kiến, đã cho ta thấy một xã hội như thế là không phương cứu chữa! Không phải chỉ vì bọn người ấy sống trên áp bức và bóc lột địa tô, mà cái chính là cuộc sống trống rỗng của bọn họ; ngày và đêm trong cái phủ họ Giả ấy chỉ toàn là những chuyện giành giật, lừa gạt, dâm dật, tự tử, tội ác... Một vài khuôn mặt lương thiện - trong đó khá nhiều là thuộc tầng lớp dưới, như già Lưu, như Tập Nhân . . . không cứu nỗi sự sụp đỗ tất yếu của nó. Hồng Lâu Mộng đã đưa đến cho người đọc những hiểu biết sâu xa về xã hội và về con người với một cách viết chân thực, giản dị mà bao gồm nhiều bút pháp lớn kim cổ. Nó là một cuốn bách khoa sinh động về xã hội Trung Quốc thời xưa. Về mặt thi pháp nghệ thuật, thì đó là một bước tiến mới trong nghệ thuật tiểu thuyết của thế giới. Hồng Lâu Mộng xứng đáng đứng ngang với các kiệt tác của nhân loại. 
25- 10 - 1988 
Mai Quốc Liên. 
------------------------------------------------------ 
(1). Theo thống kê có đến 900 loại. 
(2). Cao Ngạc (? - ?) tự Lan Thự, tác giả 40 hồi sau Hồng Lâu Mộng và Lan Thu thi sao, Lan Thự văn tồn, Nghiễn hương từ... tự Vân Sĩ, biệt hiệu Hồng Lâu ngoại sĩ (Hồng Lâu Mộng vốn tên Thạch đầu ký. Có lẽ Cao Ngạc là người đặt tên nó là Hồng Lâu Mộng). Làm quan dưới triều Kiền Long, Gia Khánh, trải các chức Nội các thị tộc, Hình khoa cấp sự trung, Nhập tịch Mãn Thanh (Kỳ quán “nhương hoàng” - màu vàng pha). 
(3). Dùng chữ trong Tây sương ký. 

Tài liệu tham khảo chính: 
- Lịch Sử Văn học Trung Quốc (Nguyên - Minh - Thanh). Sở nghiên cứu Văn học thuộc Viện Khoa Học Trung Quốc, Bắc Kinh, 1962. Bản dịch Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1964. 
- Bùi Kỷ; Lời giới thiệu, Hồng lâu mộng tập 1. Nhà xuất bản Văn hóa. Hà Nội, 1962. 
- Tào Tuyết Cần dữ Hồng lâu mộng. Hồng lâu mộng, quyển thượng. Thế giới thư cục, Singapore, 1973. 
 sưu tầm

DẠY VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG ĐỂ LÀM GÌ?

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu tham luận của Marc Fumaroli nói về môn văn tại hội thảo bàn về Làm thế nào để nối kết được việc giảng dạy các kiến thức thuộc tất cả các môn khác nhau trong nhà trường ở Pháp năm 1998. Đương nhiên ở đây tác giả nói về giảng dạy văn học trong trường ở Pháp, cho nên ông nói trực tiếp đến việc dạy tiếng Pháp và các ngôn ngữ có quan hệ “mã di truyền” với nó, như tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp… Điều quan trọng là cách quan niệm về giảng dạy văn học trong nhà trường được trình bày ở đây, dạy văn học để làm gì, dạy như thế nào…, một quan niệm có thể gợi cho chúng ta nhiều điều đáng suy nghĩ. Bài viết này có nhan đề là Văn học: con đường dẫn tới cá nhân. Đầu đề trên đây là của chúng tôi. 

Tôi muốn bác bỏ ngay định kiến cho rằng cấp trung học cứ nhất nhất phải là một khuôn nhằm tạo cho học sinh sớm thích ứng với thị trường việc làm. Trước hêt, bởi vì thị trường này đã trở nên cực kì cơ động, luôn thay đổi, không thể dự kiến trước: một kiểu nhà trường nhằm vào việc làm luôn có nguy cơ bị lệch pha so với sự phát triển nhanh chóng của thị trường. Lại nữa, còn bởi vì chức năng không thể thay thế được của bậc trung học là cung cấp cho những thiếu niên các yếu tố và các qui chiếu thiết yếu, không chỉ cho mọi cuộc sống nghề nghiệp, dù thuộc bất cứ ngành chuyên môn nào, mà còn – và đây là một chiều kích giáo dục không bao giờ được quên – cho cuộc sống liên hệ (xã hội) tương lai của họ, cuộc sống riêng tư của họ, cho việc sử dụng một cách tinh nhạy và chín chắn các món giải trí của họ.
Trong số những yếu tố và những quy chiếu thiết yếu cho thành công trong cuộc sống nghề nghiệp cũng như trong đời sống riêng tư đó, tôi không ngần ngại mà đặt lên hàng đầu việc làm chủ một cách hoàn hảo  về mặt nữ pháp đối với nôn ngữ tự nhiên (tức tiếng mẹ đẻ), cùng với các khả năng biện minh, thuyết phục, gây xúc động, gây thích thú của nó; và cỉ có việc làm quen với các tuyệt tác văn học, theo tôi, mới có thể cho phép ta có được một ý niệm chính xác về các khả năng biểu đạt nhiều sắc thái khác nhau của ngôn ngữ chúng ta.
Cần nghĩ rằng ngay chính bậc sơ học đã phải chuẩn bị một cách có chiều sâu môi trường cho việc này, bằng môn học ngữ pháp của ngôn ngữ tự nhiên, môn tập đọc một cách có chiều sâu và môn tập làm văn viết. Không có những cơ sở chắc chắn đó, mọi sự sẽ hỏng ngay từ đó mất rồi và có thể sẽ không còn cứu chữa được nữa.
Nhưng trên những nền tảng đó rồi, vẫn còn đòi hỏi học ngôn ngữ, học đọc và hiểu các tuyệt tác văn chương, làm những bài tập biểu đạt bằng viết và nói dưới nhiều dạng khác nhau nhằm kéo học sinh và sinh viên trong suốt cuộc đời của họ ra khỏi tình trạng làng nhàng vô vị của ngôn ngữ, và khiến họ có thể sống trong ngôn ngữ mẹ đẻ một cách thoải mái, sử dụng nó một cách lưu loát. Một trong những điều từ lâu ta thường nghe những người sử dụng nhân công thuộc mọi nghề nghiệp, và những người dạy đại học thuộc mọi ngành, đặc biệt là các ngành khoa học kêu trách, là việc một số ngày càng đông những người đã tốt nghiệp cử nhân không có khả năng diễn đạt rõ ràng và khúc chiết, không soạn thảo được một văn bản chặt chẽ, phân biệt được một văn bản minh bạch với một văn bản rỏm, một văn bản phong phú với một văn bản nghèo nàn ý nghĩa: thông đạt thôi thì chưa đủ, còn phải có ý thức về hình thức của diễn từ và ảnh hưởng của nó đến người khác nữa.
Pascal đối lập đầu óc tinh tế với đầu óc hình học. Việc khai tâm đối với “cái phức tạp” (của cuộc sống), ở bậc trung học, trước hết thuộc về trách nhiệm của người thầy dạy môn tiếng Pháp và văn học Pháp, ông ta có thể dựa vào tác phẩm của các nhà văn lớn để chỉ ra rằng những gì nằm ngoài tầm của luận lý, nhưng gì thộc về trực cảm tổng hợp dẫu sao cũng vẫn có thể biểu hiện thành hình ảnh và biểu đạt ra được. Các tác phẩm giàu ý nghĩa này dạy cho ta biết phân định đạo lý, và rèn cho ta khả năng phán xét để phân biệt giữa hiện tượng và thực tế, giữa cảm xúc chân thật và xúc cảm giả tạo. Bên cạnh việc dạy lý thuyết và thực hành nghệ thuật viết và nói tiếng Pháp đó (được tước bỏ đi mọi thứ thông thái rởm và mọi biệt ngữ: đấy còn là một nghệ thuật tư duy), có thể và cần phải quan niệm một lối dạy tương tự như thế bằng các ngoại ngữ nữa. Tôi không hiểu tại sao các ngoại ngữ lại phải bị coi thường, chỉ nhằm để giao tiếp đơn thuần thực dụng mà thôi.
Và về vấn đề này, tôi muốn nói rõ : cần phải để cho học sinh trung học được tự do củng cố nền tảng hiểu biết văn học Pháp của họ bằng việc học tiếng Latinh hay tiếng Hy Lạp được chọn một cách tương ứng, việc học này chính nó cũng chủ yếu thông qua các tuyệt tác văn chương. Không gì có lợi cho việc hiểu biết tính phức hợp của các hiện thực nhân văn bằng phép so sánh, ngay từ tuổi niên thiếu, với các thế giới ngôn ngữ, các hình thức và các nền minh triết cách xa nhau trong thời gian, và tuy vậy vẫn còn sức khơi động tươi nguyên đối với nhân loại. Trong một đất nước như đất nước chúng ta, ở đó hệ “mã di truyền” văn học và đạo đức là tiếng Pháp - Latinh – Hy Lạp , một phần không nhỏ các thế hệ trẻ vẫn còn liên hệ trực tiếp với di sản của họ. Tôi muốn nói thêm, để ủng hộ cho tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp, rằng đó không chỉ là những ngôn ngữ thơ và lịch sử, mà còn là ngôn ngữ triết học. Sự quan tâm trở lại hiện nay ở Pháp và trên thế giới đối với Platon và Aristote, cũng như đối với minh triết của một Séneque và một Horace, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sớm khám phá các tác giả ấy trong chính ngôn ngữ của họ.
Để làm phong phú thêm việc dạy học, chúng ta cũng có thể nghĩ đến một sự liên kết mạnh mẽ hơn nữa giữa tiếng Pháp và các ngoại ngữ: một sự kết hợp tiếng Pháp – Anh – Latinh, càng tạo dễ dàng cho việc học tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha, và một sự kết hợp tiếng Pháp – Đức – Ý hay Tây Ban Nha, chẳng hạn. Trong mỗi công thức ấy cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các giáo sư, theo nguyên tắc là các ngôn ngữ được dạy ở trường trung học hay cao đẳng đều phải thông qua các tuyệt tác văn chương và nhằm mục đích không chỉ đơn thuần để giao tiếp, mà còn là niềm vui biểu đạt.
Cần phải coi rằng cái cực văn học này có khuynh hướng chiếu tỏa sang các môn học lân cận, và lại nhận được những sự tiếp sức từ chúng, miễn là chúng ít nhiều được phân phối theo một sự phối hợp mang tính tu từ học và có chất thơ, chứ không phải theo một kiểu phương pháp luận kiêu kì và giáo điều. Sự tinh tế về văn chương vốn rất gần gụi với thị hiếu tốt; hình tượng thơ và văn học là bà con gần với hình tượng của họa sĩ, của nhà điêu khắc, người vẽ đồ họa. Vì những lí do đó và những lý do khác nữa, tất cả đều khiến chúng ta phải phối hợp chặt chẽ việc dạy các ngôn ngữ và các nền văn học với việc khai tâm đối với các ngành nghệ thuật. Cũng như, tầm quan trọng về mặt di sản cần phải chú trọng trong việc dạy văn học và nghệ thuật tất yếu đòi hỏi phải cho học sinh làm quen với khoa niên đại học và địa lý học của văn học và nghệ thuật. Các yếu tố định vị lịch sử đó cần được phối hợp chặt chẽ với việc dạy môn lịch sử và địa lý đại cương; tôi còn nhấn mạnh thêm rằng, điều người ta thường quá hay quên, lịch sử và địa lý cũng là những thể loại văn học. Các sử gia và các nhà địa lý lớn đều là những nhà văn lớn, và không có gì có ích cho việc rèn luyện văn phong bằng nghiên cứu các tác phẩm của họ. Một Julien Gracq không hề quên một chút gì trong nguồn gốc nhà sử học – địa lý học của ông khi ông mô tả một thành phố hay một cảnh quan. Vả chăng lịch sử luôn cầu viện đến các tư liệu tạo hình, các đồng tiền (cổ) và các bản khắc, cùng các bằng chứng băng hình ảnh.
Như vậy có rất nhiều những cầu nối giữa việc dạy văn học, dạy lịch sử các nghệ thuật với việc dạy lịch sử - địa lý. Các giáo sư cũng như học sinh cần luôn luôn nhớ đến những chiếc cầu nối đó. Tôi có cần nói thêm không, rằng với các giáo sư khoa hùng biện ngày xưa, vấn đề nhịp điệu của câu và đoạn câu, vấn đề hài âm, tóm lại là nhạc tính, đều gắn liền với vẻ đẹp của văn học? Cần làm sao cho việc dạy văn học và dạy âm nhạc gắn được với nhau và hỗ trợ lẫn nhau, thay vì chia tách bo bo mỗi bên một mình. Đối với môn triết học cũng vậy.
Tất cả những điều tôi vừa gợi ra trên đây đều đã có cả trong Quintilien rồi, tôi đề nghị tất cả các nhà sư phạm nên đọc lại ông ấy, cũng như đọc lại Rousseau và tác phẩm Émile của ông. Rousseau đã thấy rất đúng rằng, trong thời kỳ hiện đại, tâm trí trẻ con cần được thức tỉnh cùng lúc về nghệ thuật nói và viết một cách đúng đắn, và cả về phương pháp của các môn học khoa học. Người đồng thời với ông là Vico đã hiểu rằng về phần mình khoa học hiện đại, để gìn giữ các nền tảng và nuôi dưỡng tính sáng tạo của nó, cần không được cắt đứt với khoa học về con người được văn học tích lũy và được làm cho sống động trong các bài tập về tu từ và thi pháp mà người ta đòi hỏi ở trẻ con.
Sự hào hiệp sáng suốt đó của các nhà tư tưởng thế kỉ ánh sáng, ngày nay chúng ta càng phải học lấy, khi sự cấp bách của thế kỉ mới này đang đòi hỏi chúng ta. Các nhà khoa học tự nhiên và các công nghệ phát triển rất nhanh. Chỉ có nền cao học mới có thể ngang tầm với sự phát triển nhanh chóng đó. Hãy cho tất cả con em chúng ta những phương tiện ít kềnh càng nhất để thích ứng được với những biến đổi, cũng nhanh chóng như vậy của thị trường việc làm. Cần coi trọng việc đào tạo về nghề nghiệp và công nghệ như nước Đức đã làm trong các xí nghiệp hay phối hợp chặt chẽ với các xí nghiệp.
Nhưng cũng phải nhận thức rằng nhà trường trước hết cần phải có độ lùi trong tương quan với thế giới của các đòi hỏi khẩn cấp tức thời, và phải xây dựng nên những con người được chuẩn bị từ bên trong để có thể tự nhận thức được về chính mình và tự phát triển trong mọi hoàn cảnh, riêng tư cũng như nghề nghiệp. Chức năng không gì thay thế được của nó là dạy cho người có được lời nói và cách biểu đạt đúng, là những vật sở hữu cho mãi mãi, vô cùng quí giá đối với mọi nghề nghiệp và trước mọi bất ngờ của cuộc sống. Hãy khôi phục lại sự tự do và khả năng lựa chọn đa dạng trong các đào tạo văn học. Hãy chuyển giao cho tất cả các học sinh ít hơn một chút hay nhiều hơn một chút sự đào tạo về văn học, nhưng bao giờ cũng là trong ý nghĩa hào hiệp mà tôi đã cố gắng phác họa ra đó.

 (Tia sáng)

Người Việt man rợ


Ngày 9/9/2008, dân quân thôn Lê Pháp, xã Tiên Dương, huyện Đông Anh, Hà Nội, đánh chết hai người vô tội vì nghi trộm chó.
 Ngày 07/12/2008, một người mắc bệnh tâm thần bị dân làng Phú Châu, xã Xuân Phú, huyện Phúc Thọ, Hà Nội, đánh chết vì bị nghi trộm chó.
 Ngày 2/5/2009, một thanh niên bị dân làng Tiên Lữ, xã Tiên Phương, Chương Mỹ, Hà Nội đánh chết và một thanh niên khác bị đánh trọng thương vì bị nghi trộm chó.
 Ngày 26/5/2009, hai thanh niên câu trộm chó tại xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, Hà Nội, bị 5 thanh niên làng này đánh trọng thương, một người sau đó đã tử vong.
 Ngày 22/7/2009, người dân xã Tượng Lĩnh, huyện Nông Cống, Thanh Hóa, đánh chết một thanh niên và đánh trọng thương một thanh niên khác trong nhóm trộm chó.
 Ngày 22/8/2009, 4 người dân huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh đã đánh chết hai thanh niên câu trộm chó.
 Ngày 04/5/2010, một người câu trộm chó bị dân xã Quảng Hòa, Quảng Xương, Thanh Hóa đánh chết.
 Ngày 07/6/2010, một người câu trộm chó tại xã Hưng Đông, thành phố Vinh, Nghệ An, bị thiêu chết.
 Ngày 18/8/2010, một thanh niên tử nạn và một người khác bị thương tại xã Đak Jrăng, huyện Mang Yang, Gia Lai, vì câu trộm chó bị dân làng truy đuổi.
 Ngày 27/8/2010, một người câu trộm chó bị chết khi xung đột với những người vây bắt tại Ninh Hòa, Khánh Hòa.
 (talawas tổng hợp)
Có thấy rùng rợn không giữa thời buổi văn minh này mà con người đối xử với con người như bộ tộc man di với súc vật? Tình người ở đâu rồi? Pháp luật ở đâu? Người Việt tự hào "bầu ơi thương lấy bí cùng.." "nhiễu điều phủ lấy giá gương" ..ngày xưa đâu? Vì cớ gì mà cả một tập thể người có quyền cho mình đánh tới chết người không còn khả năng chống trả?
Có phải vì giống nòi ta thoái hóa? Có phải xã hội phát triển thì đạo đức con người xuống cấp? Có phải người Việt ta vốn chỉ sống và hành xử theo bản năng?
Tôi cho rằng một bộ phận không nhỏ người Việt vốn sợ chết nhưng lại coi rẻ sinh mạng. Họ có thể đánh đập vợ con đến gãy tay gãy chân, có thể hút thuốc ngay bên cạnh đứa con mới chào đời, có thể ra đường phóng xe bạt mạng không đội nón bảo hiểm, có thể say rượu cầm gậy đi thanh toán nhục cừu..ấy là bởi vì họ vốn coi mạng người như rơm cỏ. Với họ, chỉ có sĩ diện, thể diện là quan trọng, là đáng để hi sinh; còn đâu như thân thể, sức khỏe, sinh mạng, của mình hay của người..đều như rơm rác.
Con người văn minh được giáo dục từ nhỏ, một cách có lý trí, rằng sức khỏa và sinh mệnh là quan trọng nhất, rồi mới đến những thứ khác. Ra đường mà để bị tai nạn là một điều ngu ngốc không thể chấp nhận được, làm việc dính líu tới pháp luật là phải biết sợ, làm tổn thương người khác là phải thấy tội lỗi, ăn năn..chứ đâu như những người này, coi rẻ mình, cũng coi rẻ người khác, hành xử đầy bản năng, thiếu giáo dục. Đã là con người thì đều là công trình của tự nhiên, của xã hội, quý biết bao, thương biết bao, có đâu như súc vật chỉ ăn rồi giao phối, ngủ và chết mà có thể xuống tay giết hại? Nói chi đến một người chết đi để bao đau thương cho nhiều người, giết một người để lại bao nhiêu căm phẫn trong xã hội. Làm người, ai lại xuống tay lấy sinh mạng người, mà bằng cái cách man rợ đến thế, khác nào người trung cổ ném đá vào vật hiến sinh, khác nào khép tội voi giày với tử phạm. Thấy người khác tay không tấc sắt chết dưới tay mình mà không biết xót thương người ấy, không biết sợ pháp luật, cũng không thấy ghê tởm chính mình..những người ấy có lúc nào tự vấn thế nào  là người, là tình đồng loại không? Cướp của còn đến được, cướp mạng người có đền được không? Những kẻi giết người vì mấy con chó mà hỉ hả như thế, hóa ra với họchó quý hơn người? Không bị ám ảnh, không sợ gặp quả báo, cũng không lương tâm để tự vấn với mình, lũ giết người ấy đâu có đáng được gọi là con người?
Mạng chó chẳng lẽ hơn mạng người hay sao mà phải "giết mạng chó đền mạng người"?
Hay người Việt ta, nạn nhân của tinh thần tập thể "cha chung không ai khóc", thấy đánh người thì cũng xông vào "giây máu ăn phần", góp chút công lao trừng trị kẻ phạm tội? Hành động của những kẻ ấy là bản năng bột phát hay là nhằm thỏa mãn cơn say máu hung bạo? Còn những kẻ đứng khoanh tay nhìn xung quanh, bàng quan như thế, vô cảm đến thế, nhìn sinh thể con người kia quằn quại trong vũng máu, cũng có còn chút lương tri,nhân tâm, trắc ẩn, hay ít ra là chút trách nhiệm công dân nào không?
Thiết nghĩ đã đến lúc chương trình giáo dục Việt Nam khẩn thiết giáo dục cho học sinh từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường về giá trị con người và trách nhiệm công dân, để dân Việt Nam không còn phải xấu hổ về những hành vi của những kẻ man rợ mang danh là Người.
Ngô thị Thu Thủy

Một đề thi hay

Tế vũ thấp y khan bất kiến.
Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh
(tạm dịch: Mưa mong manh thấm áo nhìn không tỏ. Hoa rụng đất nhẹ nhàng nghe không thấu) là câu thơ trích trong bài Biệt nghiêm sĩ Nguyên (tạm dịch: Tặng nghiêm sĩ Nguyên khi từ biệt) của nhà thơ đời Đường Lý Trường Khanh.
Có những lý giải khác nhau như sau về bài thơ:
1. Đây là bài thơ ca ngợi vẻ đẹp mùa xuân.
2. “Mưa mong manh”, “cánh hoa rụng” đặc tả nỗi cô đơn không người thấu hiểu.
3. “Nhìn không tỏ”, “nghe không thấu” không chỉ thái độ sống buông xuôi, mà thể hiện cách xử thế không màng danh lợi.
4. Quan niệm sống trong bài thơ không còn thích hợp với cuộc sống ngày nay...
Bằng cảm nhận của riêng mình về hai câu thơ, anh/chị hãy viết một bài văn theo những yêu cầu sau:
1. Đề bài tự đặt.
2. Thể thức hành văn không giới hạn.
3. Bài văn không dưới 800 chữ.

Xin thầy hãy dạy cho con tôi .....

Bức thư của cố tổng thống Mỹ Abraham Lincoln (1809-1865) gửi thầy hiệu trưởng ngôi trường nơi con trai ông theo học. Được viết ra từ gần 200 năm trước, lại là ở nước Mỹ, nhưng bức thư vẫn giữ nguyên tính “thời sự” và gợi nhiều suy nghĩ cho chúng ta.

Kính gửi thầy…
Con tôi sẽ phải học tất cả những điều này. Rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết: cứ mỗi một kẻ vô lại ta gặp trên đường phố, thì ở đâu đó, sẽ có một con người chính trực; bên cạnh một chính trị gia ích kỷ, sẽ xuất hiện một nhà lãnh đạo tận tâm.
Xin hãy dạy cho cháu biết rằng cứ mỗi một kẻ thù ta gặp ở nơi này thì ở nơi khác ta lại tìm thấy một người bạn. Bài học này sẽ mất nhiều thời gian, tôi biết; nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu hiểu rằng một đồng đôla kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với nǎm đô la nhặt được trên hè phố…
Xin hãy dạy cho cháu cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng. Xin hãy dạy cháu tránh xa sự đố kỵ. Xin dạy cho cháu biết được bí quyết của niềm vui thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác là những kẻ dễ bị đánh bại nhất…
Xin dạy cho cháu biết đến thế giới kỳ diệu của sách… nhưng cũng để cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn o­ng bay lượn trong nắng, và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.
Ở trường, xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi thi. Xin hãy tạo cho cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, cho dù tất cả mọi người xung quanh đều cho rằng ý kiến đó là không đúng…
Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng với những người hoà nhã và cứng rắn đối với những kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất cả mọi người đều chạy theo thời thế.
Xin hãy dạy cho cháu biết phải lắng nghe tất cả mọi người nhưng cũng xin thầy dạy cho cháu biết cần phải sàng lọc những gì nghe được qua một tấm lưới Chân Lý để cháu chỉ đón nhận những gì tốt đẹp mà thôi.
Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã… Xin hãy dạy cho cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt. Xin hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẻ yếm thế và cẩn trọng trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.
Xin hãy dạy cho cháu rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người ra giá cao nhất nhưng không bao giờ được để cho ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình.
Xin hãy dạy cho cháu biết ngoảnh tai làm ngơ trước một đám đông gào thét… và đứng thẳng người bảo vệ lẽ phải.
Xin hãy đối xử với cháu dịu dàng nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện nên những thanh sắt cứng rắn. Hãy giúp cháu có can đảm biểu lộ sự thiếu kiên nhẫn và có đủ kiên nhẫn để biểu lộ sự can đảm.
Xin hãy dạy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân bởi vì khi đó cháu sẽ luôn có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.
Đây quả là một yêu cầu quá lớn, tôi biết, thưa thầy, nhưng xin thầy cố gắng hết sức mình… con trai tôi là một cậu bé tuyệt vời. 

Bài thơ làm thi tiên Lý Bạch phải buông bút

Đó là bài thơ “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu (? - 754), người Biện Châu, (tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), đậu Tiến sĩ đời Đường Huyền Tông, làm đến chức Tư huân viên ngoại lang, đề ở Lầu Hạc Vàng.

Lầu này ở trên ghềnh đá Hoàng Hộc, huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc. Theo truyền thuyết, Phí Văn Thư sau khi lên tiên, cưỡi hạc vàng trở về nghỉ tại đây. Khi Lý Bạch (701 - 762) tự là Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, người huyện Chương Minh (tỉnh Tứ Xuyên) đời Đường Huyền Tông, làm chức Cung phụng trong Hàn lâm viện đi qua thấy bài thơ của Thôi Hiệu đã phải thốt lên: “Trước mắt có cảnh nói không được, Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu” mà không làm thơ vịnh lầu nữa.

Chúng tôi xin giới thiệu bài thơ đặc biệt đó của Thôi Hiệu với lời bình tuyệt diệu của nhà phê bình văn chương nổi tiếng Kim Thánh Thán, người Trường Châu (tỉnh Giang Tô), không rõ sinh năm nào, mất trong một vụ án oan khuất đời Thanh Thế Tổ (1661).

Hoàng Hạc lâu

Thôi Hiệu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhất mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Dịch nghĩa:

Lầu Hạc Vàng

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hạc Vàng
Hạc đã đi rồi thì không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn man mác trôi
Dòng sông quang tạnh rực rỡ hàng cây đất Hán Dương
Cỏ thơm mọc tươi tốt trên bãi Anh Vũ
Lúc chiều tối quê nhà ở nơi đâu?
Khói sóng trên sông khiến người buồn bã.

Bản dịch thơ của thi sĩ Tản Đà:

Lầu Hạc Vàng

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ vẫn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai…

Lời bình của Kim Thánh Thán:

(1 - 4) Tiền giải: Đây chính là bài thơ huyên truyền ngàn năm nay. Có bản chép “Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ” thực là lầm lớn! Không biết rằng bài thơ này dùng bút lớn lao là tả liền ba chữ “Hoàng Hạc lâu”, chỗ kỳ lạ là ở đó. Giả sử người xưa mà cưỡi “bạch vân” thì lầu này tại sao lại có tên là “Hoàng Hạc”? Lý này thật rõ ràng! Còn như câu 4 chợt thêm vào “bạch vân”, diệu ở chỗ là “có ý không ý, có nói không nói” (hữu ý vô ý, hữu vị vô vị). Nếu thoạt tiên chưa tả “Hoàng Hạc” mà trước đã tả “bạch vân”, thế là “hoàng hạc”, “bạch vân” đối chọi nhau; “hoàng hạc” vốn là tên lầu, còn “bạch vân” thì do điển nào mà ra? “Bạch vân” đã được người xưa cưỡi đi, mà đến nay hãy còn “du du”, trên đời này há có “thiên tải bạch vân” sao? Thực không đủ đáng một cái cười! Làm thơ không nhiều mà có thể khiến Thái Bạch công phải gác bút, thì đúng là bậc đại trượng phu trong rừng bút mực vậy. Hãy xem bọn nho mọn ô uế, suốt đời bịt mũi rền rĩ khổ ngâm, đến cái ngày đậy nắp áo quan, người ta góp nhặt lại cũng được đến hơn mấy trăm ngàn vạn lời, thế nhưng không từng được đến một đứa trẻ nít trong xóm làng tạm thời để mắt vào, thực đáng đau xót lắm!

Xét kỹ ra thì ông (Thôi Hiệu) đâu có từng làm thơ, mà chỉ hướng phía trên phía dưới, phóng mắt nhìn xa, thấy đạo lý là như vậy, liền tức thì đứng dậy, cầm bút thấm mực, tiến đến vách lầu vôi trắng, mặc ý viết lên một hàng chữ lớn, viết xong lại ngắm xem, tuyệt nhiên không biết là có hay không, mà chỉ thấy rằng sửa chẳng nên sửa, chữa chẳng nên chữa, thêm không thể thêm, bớt không thể bớt, thế rồi trong lòng thỏa mãn, liền lưu lại đây, thực không liệu rằng sau này có người trông thấy, lại không vượt ra khỏi cái khuôn khổ ấy; vả chăng người sau không vượt ra nổi, mà cũng chỉ sửa chữa, thêm bớt đều chẳng ích gì, thế rồi lại giấu vào tay áo mà đi, không bảo là cả tự pháp, cú pháp, chương pháp đều đã chiếm hết rồi, không còn tranh đoạt nổi nữa.

Thái Bạch Công phê bình bài thơ này cũng chỉ nói rằng:

“Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”

(Trước mắt có cảnh nói không được
Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu)

Ôi, trước lầu Hoàng Hạc, đá sông hiểm trở, Hạ Khẩu nhô cao, trông miền Miện Hán, ứng tiếp xung yếu, cảnh trạng ấy đâu chỉ tả hết trong mấy chữ “tình xuyên phương thảo, nhật mộ yên ba” của thơ họ Thôi mà thôi đâu! Thế mà Thái Bạch Công lại không chịu nói nữa, cúi đầu nhún nhường ra đi, thế không phải là vì cảnh đã nói hết, không nói được nữa mà vốn là cảnh thực không nói hết được, đúng ra không nói được nữa. Thái Bạch Công thực là vì bài thơ đề của Thôi Hiệu là một bài Luật thi, nên nay nếu muốn đề nữa thì tất yếu cũng phải làm luật thi. Nhưng ông lại tự nghĩ rằng: về luật thi, từ trước đến nay hẳn phải là chưa đề thơ, trước hết phải mệnh ý, mệnh ý rồi thì phải lo thẩm cách, sau khi thẩm cách lại phải bận tranh phát bút.

Còn như về cảnh, thì chẳng qua là sau khi mệnh ý, thẩm cách, phát bút, đầy đủ ở bên rồi, chỉ còn lặng chờ được sử dụng mà thôi. Bây giờ nếu muốn mệnh ý thì họ Thôi đã mệnh ý hết rồi, nếu muốn thẩm cách thì họ Thôi thẩm cách đã xong rồi, nếu lại muốn tranh phát bút thì họ Thôi phát bút đã là không tiền khoáng hậu, không chiếu cố đến kẻ khác; dù cho mình có cảnh đẹp đầy mắt, có thể soạn được mấy trăm ngàn liên đi chăng nữa, thì cũng chỉ là tự nhả tâm huyết ra uổng phí thôi, chớ có đặt tay vào đâu được, vì thế bất giác cúi mình sát đất, thổ lộ thực rằng: “Có cảnh nói không được”.

Có cảnh nói không được cũng như nói rằng tiếc thay trước mắt có vô số cảnh đẹp, mà đến một chữ cũng không đặt được vào bài luật thi. Than ôi! Thái Bạch Công sở dĩ hư tâm phục thiện như thế, chỉ vì chính mình hiểu rõ luật thi cam khổ. Còn các ông đời sau thì bất chấp có người nào đề thơ rồi, chẳng ngại ngần gì mà không tức thì lại đề tám câu.

Giải I: Thấy ông (Thôi Hiệu) diệu ở chỗ chỉ có một câu tả “lầu”, còn ba câu kia đều là tả “người xưa”. Ba câu kia đều là tả “người xưa” như thế là một lòng tưởng nghĩ chỉ là tưởng nghĩ “người xưa”, đôi mắt ngóng trông chỉ là ngóng trông “người xưa”, thực là không còn lòng nào rảnh rỗi mà nghĩ đến lầu này, không còn mắt nào rảnh rỗi mà ngó đến lầu này. Thử nghĩ xem, ông đầy bụng có tâm kỳ như thế nào, khắp mình có khí khái như thế nào chớ đâu từng có các chuyện thị phi đắc thất, vinh nhục hưng táng làm nhơ bẩn nổi ngòi bút! Câu 1 là tả “người xưa”, câu 3 là nghĩ “người xưa”, tuyệt nhiên không từng để mắt đến “lầu”.

Phàm cổ nhân mà có một lời, một hàng, một câu, một chữ đủ để bước một mình trong một thời, chiếm cứ cả ngàn năm, thì ta cần phải tin rằng không có gì là không đều do ở đọc sách, dưỡng khí mà ra. Như giải thơ này, ta phải tin rằng rõ ràng là do đọc sách. Các câu 1, 2: chính là ông đọc trong thiên Thiên đạo, sách Trang Tử, lời của Luân Biện nói với Tể Hoàn Công: “Cổ nhân chi bất khả truyền giả tử hỹ, quận chi sở độc, nãi cổ nhân chi tao phách dĩ phù” (Cái điều không thể truyền lại được của cổ nhân thì đã chết rồi, điều mà ông đọc ngày nay chỉ là cặn bã của cổ nhân mà thôi); ông liền thuận tay sửa bớt, dùng rất thích đáng. Các câu 3,4: chính là ông đọc được câu ca Dịch thủy trong Kinh Kha liệt truyện, sách Sử Ký:

“Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn”
(Gió hiu hiu hề sông Dịch lạnh lùng
Tráng sĩ một ra đi không hề trở lại)

ông liền thuận tay chuyển đổi lại, dùng được rất thích đáng.

Còn như với cuốn sách mà ai ai cũng đọc, thế mà chỉ ông riêng có sự sản đối cảnh liền dùng, ngay cả chính mình rốt cuộc cũng không biết nữa, thế thì rõ ràng cần phải tin đó là cái sức dưỡng khí, không phải là vu vậy.

Người đời sau lại có câu “Dục tùy toái Hoàng Hạc lâu” (Muốn đập tan lầu Hoàng Hạc); nếu biết rằng bài thơ này không hề tả đến “lầu” thì đúng là chỉ uổng công đập phá. Từ xưa đến nay đều là lấy ngoa truyền ngoa, không đủ cung cấp một tiếng cười, đúng thay!

(5 - 8) Tiền giải tả “người xưa”, hậu giải tả “người nay” tuyệt nhiên không tả đến “lầu”. Giải này lại diệu ở chỗ không dính liền gì với đoạn trên, chỉ nhất ý tựa cao trông xa, riêng thổ lộ hoài bão của mình, mặc cho người đời sau muốn hiểu ra sao thì hiểu, thực đúng là quy mô của bậc đại gia vậy!

Các câu 5, 6: chỉ đặt 5 chữ “hương quan hà xứ thị”, nói rằng ở nơi này cây thì “lịch lịch” (in rõ), bãi thì “thê thê (tươi tốt)”, riêng có mắt ngóng “hương quan” là không biết “hà xứ” (nơi nào). Ông chỉ đặt ngang hai chữ “nhật mộ” lên câu đó, là liền khiến cho 28 chữ trong 4 câu tiền giải chữ nào cũng nhất tề dao động vào, đó là bút pháp tuyệt kỳ vậy.

Nguyên Quỳnh Thư

CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI


A/NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG , ĐẠO LÝ 

1. Khái niệm, đề tài, yêu cầu và các thao tác chính:
a) Khái niệm
Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề tư tưởng đạo lí trong cuộc đời.
b) Đề tài
Đề tài của nghị luận về tư tưởng, đạo lí là vô cùng phong phú, bao gồm:
- Các vấn đề về nhận thức như lí tưởng, mục đích sống,…
- Các vấn đề về tâm hồn, tính cách như:
+ Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, độ lượng,…
+ Tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn,…
+ Thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi,... 
- Về các quan hệ gia đình như tình mẫu tử, anh em,... 
- Về quan hệ xã hội như tình đồng bào, tình thầy trò, bạn bè,…
- Về cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộc sống. 
c) Yêu cầu
- Hiểu được vấn đề cần nghị luận qua phân tích, giải thích để xác định vấn đề
- Phân tích, chứng minh những biểu hiện cụ thể của vấn đề, thậm chí so sánh, bàn bạc, bác bỏ,… nghĩa là biết áp dụng nhiều thao tác lập luận.
- Phải biết rút ra ý nghĩa của vấn đề.
- Người thực hiện nghị luận phải có lí tưởng và đạo lí.
d) Các thao tác lập luận cơ bản
Các thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận. 
2. Cách làm bài
a) Mở bài
- Giới thiệu vấn đề được đưa ra bình luận.
- Nêu luận đề: dẫn nguyên văn câu danh ngôn hoặc nội dung bao trùm của danh ngôn. 
- Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ triển khai. 
b) Thân bài
*Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận (nêu các khía cạnh nội dung của tư tưởng, đạo lí này).
-Làm rõ vấn đề được dẫn trên đề. Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng là một câu trích dẫn khá nổi tiếng nào đó hoặc một ý tưởng do người ra đề đề xuất, người viết cần lần lượt giải nghĩa, làm rõ nghĩa của vấn đề theo cách đi từ khái niệm đến các vế câu và cuối cùng là toàn bộ ý tưởng được trích dẫn. Khi vấn đề được diễn đạt theo kiểu ẩn dụ bóng bẩy thì phải giải thích cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ ngữ. Nếu vấn đề là một hiện tượng đời sống, người viết cần cho biết đó là hiện tượng gì, hiện tượng đó biểu hiện ra sao, dưới các hình thức nào (miêu tả, nhận diện)...
Làm tốt bước giải nghĩa này sẽ hiểu đúng vấn đề, xác định đúng vấn đề (hoặc mức độ) cần giải thích để chọn lí lẽ cần thiết.
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi LÀ GÌ.
-Tìm hiểu cơ sở của vấn đề: Trả lời tại sao có vấn đề đó (xuất phát từ đâu có vấn đề đó). Cùng với phần giải nghĩa, phần này là phần thể hiện rất rõ đặc thù của thao tác giải 
thích. Người viết cần suy nghĩ kĩ để có cách viết chặt chẽ về mặt lập luận, lô gíc về mặt lí lẽ, xác đáng về mặt dẫn chứng.
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu 
hỏi TẠI SAO.
-Nêu hướng vận dụng của vấn đề: Vấn đề được vận dụng vào thực tiễn cuộc sống như thế nào. Hiểu nôm na, phần này yêu cầu người viết thể hiện quan điểm của mình về việc tiếp thu, vận dụng vấn đềvào cuộc sống của mình như thế nào.
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi NHƯ THẾ NÀO.
**Lưu ý:
-Nên đặt trực tiếp từng câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào đầu mỗi phần (mỗi bước) của bài văn. Mục đích đặt câu hỏi: để tìm ý (phần trả lời chính là ý, là luận điểm được tìm ra) và cũng để tạo sự chú ý cần thiết đối với người đọc bài văn. Cũng có thể không cần đặt trực tiếp ba câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào bài làm nhưng điều quan trọng là khi viết, người làm bài cần phải có ý thức mình đang lần lượt trả lời từng ý, từng luận điểm được đặt ra từba câu hỏi đó. -Tuỳ theo thực tế của đề và thực tế bài làm, bước NHƯ THẾ NÀO có khi không nhất thiết phải tách hẳn riêng thành một phần bắt buộc.

* Phân tích, chứng minh, bình luận các khía cạnh ; bác bỏ, phê phán những sai lệch (nếu có).
-Xác định chính xác điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.
-Dùng dẫn chứng trong thực tế cuộc sốngđể minh hoạ nhằm làm sáng tỏ điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.
*bình luận:
- Nêu, giải thích rõ vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.
- Dùng lí lẽ và dẫn chứng (chủ yếu là lí lẽ) để khẳng định giá trị của vấn đề hoặc hiện tượng (giá trị đúng hoặc giá trị sai). Làm tốt phần này chính là đã bước đầu đánh giá được vấn đề(hiện tượng) cần bình luận.
- Bàn rộng và nhìn vấn đề (hiện tượng) cần bình luận dưới nhiều góc độ (thậm chí từ góc độ ngược lại) đểcó cái nhìn đầy đủ hơn.
- Khẳng định chung, nêu ý nghĩa, liên hệ thực tế, rút ra bài học nhận thức và hành động. 
- Lấy dẫn chứng minh họa (ngắn gọn, tiêu biểu, dễ hiểu). 
c) Kết bài
Tóm tắt các ý, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm chốt lại bài viết hoặc dẫn thơ, văn để mở rộng, gợi ý thêm cho người đọc về vấn đề đang bàn luận. 
3. Tổng kết
Muốn làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, trước hết hãy tìm hiểu sâu về tư tưởng, đạo lí được đem ra bàn bạc.
Tìm hiểu tư tưởng, đạo lí bằng cách phân tích, giải thích theo từng ý, từng vế của vấn đề được nêu.
Phát biểu nhận định, đánh giá của mình về tư tưởng, đạo lí đó.
Nêu các luận cứ và phân tích các luận cứ để khẳng định nhận định, đánh giá của mình. 
> Về cấu trúc triển khai tổng quát:
-Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận (hiểu vấn đề cần nghị luận là gì).
-Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận.
-Nêu ý nghĩa của vấnđề (bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí).

4. Ví dụ
Lập dàn ý cho đề bài sau (đề 1 SGK Ngữ văn Nâng cao, tập 1, trang 175):
Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống (Lép Tôn-xtôi). 
Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung và trình bày lí tưởng riêng của mình. 
a) Mở bài
- Giới thiệu về ý kiến của L.Tôn-xtôi. 
- Nêu nội dung câu nói của L.Tôn-xtôi:
+ Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường ; không có lí tưởng thì không có cuộc sống.
+ Nâng cao vai trò của lí tưởng lên một tầm cao ý nghĩa của cuộc sống. Ở đây đòi hỏi phải giải thích mối quan hệ giữa lí tưởng và ngọn đèn, phương hướng và cuộc sống. 
- Yêu cầu của đề: suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung đối với mọi người và lí tưởng riêng của mình. 
b) Thân bài
- Giải thích câu nói của L.Tôn-xtôi về vai trò của lí tưởng đối với cuộc sống:
+ Lí tưởng là ước mơ, khát vọng định hướng cuộc sống. Lí tưởng xấu có thể làm hại cuộc đời của một người và nhiều người. Không có lí tưởng tốt đẹp thì không có cuộc sống tốt đẹp.
+ Lí tưởng tốt đẹp, thực sự có vai trò chỉ đường vì đó là lí tưởng vì dân, vì nước, vì gia đình và hạnh phúc bản thân. Lí tưởng tốt đẹp có vai trò chỉ đường cho chính sự nghiệp cụ thể mà mỗi người theo đuổi: khoa học, giáo dục, an ninh, kinh doanh,…
- Nêu suy nghĩa tán thành hay không tán thành đối với ý kiến của nhà văn Nga.
- Nêu lí tưởng riêng của mình: vấn đề bức thiết đặt ra cho mỗi HS tốt nghiệp THPT là chọn ngành nghề, một ngưỡng cửa để bước vào thực hiện lí tưởng. 
c) Kết bài
Khẳng định vai trò của lí tưởng trong cuộc sống mỗi con người mỗi thế hệ, mỗi dân tộc. 
B/NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG 
1. Khái niệm
Hiện tượng là cái xảy ra trong không gian, thời gian mà người ta nhận thấy. Những gì không hiện ra bên ngoài, những gì không có hình dạng hay trạng thái, con người không cảm nhận, quan sát được đều có thể coi là hiện tượng. Đây là chỗ phân biệt hiện tượng (bên ngoài) với bản chất (bên trong) và với vấn đề (không hình trạng), dẫu cho chúng ta vẫn thường xuyên bình luận cả hiện tượng lẫn vấn đề. 
Khi nói hiện tượng đời sống thì hai chữ đời sống ở đây được dùng trong sự phân biệt với văn học, khoa học, với sách vở nói chung. Vì vậy, nói đến hiện tượng đời sống là nói đến những cái xảy ra ở cuộc sống bên ngoài, con người bình thường có thể quan sát thấy, chứ không phải trong sách vở, văn chương. 
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là kiểu bài lấy một hiện tượng xảy ra trong đời sống để bàn bạc. Từ hiện tượng này, người nghị luận phải phân tích để tìm ra ý nghĩa xã hội về tư tưởng, đạo đức mà bàn bạc, đánh giá. Đề tài bàn bạc gần gũi với đời sống, sát hợp với trình độ nhận thức của HS như tai nạn giao thong, hiện tượng môi trường bị ô nhiễm, những tiêu cực trong thi cử, nạn bạo hành trong gia đình, phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi, cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn, những tấm gương người tốt việc tốt,…
2. Cách làm bài
a) Cách viết mở bài

Nghị luận về một hiện tượng đời sống cũng là một dạng văn bản. Vì vậy, nó cũng cần bắt đầu bằng một mở bài. Và phần mở bài của nó dĩ nhiên không thể đi ngược lại những nguyên tắc chung của mở bài. 
Nghị luận là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người muốn được bàn luận và đánh giá về một hiện tượng (hoặc vấn đề) nào đấy. Mở bài của một bài nghị luận hiện tượng đời sống phải thể hiện được định hướng đánh giá và bàn luận đó thông qua những câu hỏi, hoặc những câu có tác dụng gợi suy nghĩ, trăn trở trong người đọc (người nghe). 
b) Cách viết thân bài
Thân bài phải gồm đủ hai thành phần là bàn luận và đánh giá, để có thể đáp ứng yêu cầu bình luận. 
Các ý của thân bài cần được sắp xếp sao cho người đọc (người nghe) có thể tiếp nhận sự đánh giá, bàn luận của người làm văn một cách dễ dàng và hứng thú, vì sự bình luận chỉ có ý nghĩa khi nó thực sự hướng tới người đọc (người nghe). Chẳng hạn:
- Người đọc (người nghe) sẽ không thể tiếp nhận, và càng không thể tiếp nhận một cách hứng thú những lời bình luận về một hiện tượng nếu họ còn mơ hồ về cái hiện tượng được đưa ra bình luận ấy. Vì thế, trước khi bắt tay vào đánh giá hay bàn bạc, người bình luận nên trình bày một cách trung thực, đầy đủ, rõ ràng về hiện tượng đời sống mà mình sẽ đem ra bàn luận cùng người đọc (người nghe).
Người bình luận không nên cố trình bày hiện tượng đời sống đó sao cho phù hợp nhất với quan điểm của mình, vì việc làm ấy có thể sẽ mâu thuẫn với yêu cầu khách quan, trung thực và từ đó sẽ khién người đọc (người nghe) hoài nghi, cảm thấy sự bình luận không thật công bằng, không vô tư.
Người bình luận cũng nên vận dụng các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh trong lúc trình bày để bài văn của mình thêm chính xác, rõ ràng, sinh động và do đó, thêm sức thuyết phục người đọc (người nghe).
- Người đọc (người nghe) sẽ không thể thực sự tin vào ý kiến của người nghị luận, nếu cảm thấy ý kiến ấy chỉ là sự áp đặt một chiều. Sức thuyết phục của bài nghị luận sẽ cao hơn nhiều khi người nghe có điều kiện so sánh ý kiến của người nghị luận với những ý kiến đã được nêu ra trước đó. Do vậy, người làm văn nên làm công việc điểm lại và nhận xét một cách hợp tình hợp lí các quan điểm chính đã có về hiện tượng đời sống được đưa ra bình luận, trước khi đưa ra quan điểm của bản thân mình.
Việc điểm lại và nhận xét các quan điểm chính đã có về hiện tượng đời sống nêu ở đề bài rõ ràng cũng cần phải đạt được các yêu cầu khách quan, trung thực, như vừa nêu ở điểm trên. Vì có thế thì người nghị luận mới mong đạt được mục đích của mình. 
- Khi nêu ra và bảo vệ quan điểm của riêng mình, người bình luận có thể đứng hẳn về một phía, ủng hộ phía mình cho là đúng và phê phán phía mà mình chắc chắn là sai. Người bình luận cũng có thể kết hợp những phần đúng và loại bỏ phần còn hạn chế của mỗi phía để đi tới một sự đánh giá mà mình tin là thực sự hợp lí, công bằng. Và cũng không loại trừ khả năng người bình luận đưa ra một cách đánh giá khác biệt của riêng mình, sau khi đã phân tích các quan điểm ý kiến khác nhau về đề tài cần bình luận. 

Việc lựa chọn cách làm nào trong cách kể trên cũng hoàn toàn chỉ xuất phát từ một và chỉ một cơ sở duy nhất - cơ sở chân lí. Và sau khi đã lựa chọn được một cách thức phù hợp với chân lí (lẽ phải) rồi thì nhiệm vụ của người bình luận là thuyết phục người nghe (người đọc) đặt niềm tin vào sự đánh giá của mình, như chính mình đã từng có niềm tin như thế. 
- Khi tiếp tục luận bàn sâu rộng hơn, người làm văn có thể đề cập tới thái độ, hành động, cách giải quyết cần có trước hiện tượng vừa được nhận xét, đánh giá, cũng có thể bày tỏ những cảm nhận, suy nghĩ mà mình đã rút ra khi liên hệ với thời đại, hoàn cảnh sống, lứa tuổi của mình và của người đang lắng nghe mình bình luận. Sự bàn luận còn có thể đạt tới tầm vóc lớn hơn, có giá trị cao hơn nếu người bình luận có thể mở ra những ý nghĩa sâu rộng, sâu sắc và bất ngờ nữa từ hiện tượng đời sống mà mình đang bình luận. 
c) Cách viết kết bài
Phần kết bài phải đóng được bài văn lại bằng một khẳng định chắc chắn, không thể nào bác bỏ.
Ở một bài nghị luận hay, phần kết không chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là chốt lại bài văn. Một phần kết chỉ thật hay khi nó còn mở ra được một phạm vi rộng lớn hơn cho những suy ngẫm, những điều cần bàn luận tiếp.
3. Tổng kết
Khi có đề văn yêu cầu nghị luận về một hiện tượng đời sống thì trước hết phải tìm hiểu hiện tượng đời sống được nêu trong đề, phân tích các biểu hiện của nó, lí giải các nguyên nhân và hậu quả.

Tiếp đến nêu ý kiến nhận xét, đánh giá hiện tượng đó tốt, xấu, lợi, hại như thế nào. Chúng ta cần có thái độ ra sao đối với hiện tượng đó. Trên cơ sở suy nghĩ đó mà lập dàn ý để cho bài viết mạch lạc, vận dụng kết hợp hợp lí các thao tác nghị luận. 
4. Ví dụ
Lập dàn ý cho đề bài sau (đề 1 SGK Ngữ văn Nâng cao, tập 1, trang 202):
Báo Tuổi trẻ ngày 12/07/2004 đưa tin:
Theo Ban Chỉ đạo tuyển sinh đại học năm 2004, sau hai đợt thi đã có 3186 thí sinh bị xử lí kỉ luật do vi phạm quy chế thi, trong đó có 2637 thí sinh bị đình chỉ thi, chủ yếu do mang và sử dụng tài liệu trong phòng thi. Hình thức mang tài liệu, phao thi ngày càng tinh vi, chúng được giấu trong thước kẻ, điện thoại di động, trong đế giày”.
Hãy bình luận về thực trạng đó. 
a) Mở bài
Nêu hiện tượng, trích dẫn đề, nhận định chung.
b) Thân bài
- Phân tích hiện tượng:
+ Hiện tượng thí sinh vi phạm quy chế thi, bị xử lí kỉ luật lên đến hai, ba nghìn người là hiệnt tượng chứng tỏ một bộ phận thí sinh thiếu tự do chưa có kiến thức vững vàng, động cơ, thái độ học tập, thi cử không đúng đắn.
+ Hiện tượng sử dụng nhiều hình thức mang tài liệu tinh vi chứng tỏ nhiều thí sinh đã có ý thức vi phạm quy chế từ ở nhà, có chủ ý không tuân thủ quy chế thi, rõ ràng là phạm pháp có ý thức. 
+ Việc xử lí của các Hội đồng thi chứng tỏ việc thi cử được tổ chức nghiêm túc, các giám thị đã có thái độ nghiêm khắc cần thiết. 

- Bình luận hiện tượng:
Hàng năm, cả nước ta có khoảng tám, chín trăm nghìn cho đến một triệu thí sinh thi đại học. Con số hai, ba nghìn nói trên là rất ít so với tổng số. 
Đa số thí sinh Việt Nam có thái độ thi cử nghiêm túc, đúng đắn, tôn trọng quy chế thi. Không nên vì một số ít có thái độ sai phạm mà vơ đũa cả nắm, đánh giá sai toàn bộ thí sinh. 
- Phê phán những mặt sai:
+ Thái độ, động cơ học tập.
+ Thái độ gian lận, cố tình vi phạm.
- Khẳng định đa số học sinh có thái độ đúng đắn , giám thị hoàn thành tốt nhiệm vụ coi thi. 
c) Kết bài
- Kêu gọi các thi sinh có thái độ đứng đắn trong thi cử, đảm bảo chất lượng các kì thi tuyển sinh.
- Bày tỏ thái độ của người viết trước hiện trạng đó. 

( Sưu tầm )

Trao Duyên


Trao Duyên
                                                                                                              Sưu tầm và chỉnh sửa

Đoạn trích Truyện Kiều này có nhan đề "Trao duyên" gồm 34 câu (từ câu 723 đến câu 756). Đây là một trong những đoạn thơ mở đầu cuộc đời lưu lạc đau khổ của Thúy Kiều.
Tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng đang tươi đẹp thì Kim Trọng phải về Liêu Dương hộ tang chú. Trong khi đó tai họa đổ ập xuống gia đình Thúy Kiều. Trước biến cố gia đình, một người giàu tình cảm, giàu đức hi sinh như Thúy Kiều không còn cách nào khác là phải bán mình lấy tiền cứu cha và em. Nhưng nàng lại đau lòng vì phụ mối tình với Kim Trọng. Nàng quyết định nhờ em thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.

Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. "Trao duyên" ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác, nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình.
Duyên vô hình, là yếu tố định tính, lại đặt trong cái thế của “tình chị, duyên em” cay đắng. Đoạn thơ không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng với nỗi đau tự cắt bỏ duyên tình của Thúy Kiều.
Trăm mối tơ lòng ngổn ngang, đè nặng lên đêm cuối định mệnh của Kiều. Làm sao để Vân có thể chấp nhận chàng Kim, đón một chữ tình dang dở? Vì vậy mà câu thơ mở đầu đoạn trích như lời van xin, như lời cầu khẩn. Kiều cố hạ mình quỳ lạy em như lạy một ân nhân, một bậc bề trên và nói với em bằng những lời lẽ nhún nhường gần như van vỉ:
Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em

Một không gian nghi lễ được thiết lập trên cả hai phương diện: lời nói và hành động. Lời nói trang trọng vì nàng không nói nhờ mà là cậy, , không chỉ ướm hỏi mà còn đặt tất cả niềm tin, hy vọng, có trong lời trăng trối . Bao nhiêu tin tưởng bao nhiêu thiêng liêng đặt cả vào từ cậy ấy! Nàng nói “em có chịu lời” chứ không nói  “nhận lời”  vì trong sự gửi gắm của nàng có sắc thái nài nỉ, ép buộc. Cũng không phải chỉ nói mà là thưa, kèm với lạy. Hành động lạy-thưa khiến câu chuyện giờ không còn là của Chị và Em, bức tranh Trao duyên hằn sâu vào câu chữ là hình ảnh của một người ngồi và một người quỳ. Đó là câu chuyện giữa kẻ trên và người dưới, giữa người ban ơn và kẻ chịu ơn. Phải thiêng liêng đến mức nào mới có sự "thay bậc đổi ngôi" giữa hai chị em như thế. Cái động thái thay bậc đổi ngôi, tiên lễ hậu văn đã đẩy Vân vào thế bị động. Vân không thể nói bởi Vân đang đi từ hết ngỡ ngàng này đến ngỡ ngàng khác. Hai từ “cậy” - “chịu” cùng cái cúi đầu của Kiều trước Vân như sợi dây vô hình đã buộc chặt cuộc đời Vân với một cuộc đời khác. Nàng biết, “gánh tương tư” nàng sắp trao cho em vô cùng nặng nề. Nàng hiểu mối tình của mình là “tơ duyên” còn mối tình của Vân chỉ là “tơ thừa. Trong hoàn cảnh bi thương của mình, Thúy Kiều không chỉ trao duyên mà còn trao cả nỗi đau của mình cho em gái. Kiều ý thức rõ sự thiệt thòi mà em mình gánh chịu nên nàng mới phải cậy em, mới phải lạy, phải thưa với em, coi em như ân nhân. Nàng cố ý tạo một không khí trang trọng, vừa tình vừa lễ khiến Vân không thể chối từ.
Vì thế mà giờ đây Kiều phó thác “gánh tương tư” cho em, thổ lộ hết vơi em về mối tình mặn nồng của mình với chàng Kim, để từ đó bộc lộ nỗi đau đớn khôn xiết khi phải hi sinh tình yêu sâu nặng ấy cho gia đình, để vẹn toàn chữ hiếu:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Một loạt những từ “khigợi nhắc những mảng đoạn của ký ức về một thời say đắm của mối tình đầu vượt qua kiềm tỏa của lễ giáo. Đắm mình vào câu chuyện tình yêu Kim-Kiều không phải Kiều đắm trong hạnh phúc hôm qua mà Kiều đang cho Vân thấy nỗi đau, sự mất mát quá lớn lao của nàng. Để thuyết phục em,nàng đã nói ra cái lý của mình: trong cơn gia biến, nàng đã chọn chữ hiếu, hi sinh tình yêu khi cả hai bề không thể vẹn toàn. Rồi nàng lại viện đến tình để thuyết phục em, từng lời thốt ra đau đớn đến xé lòng:
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
“Ngày xuân” mang tính ước lệ, chỉ tuổi trẻ hạnh phúc của người con gái. Cùng trang lứa với nhau, vậy mà khi dứt tình ra đi, Kiều coi như tuổi xuân của mình đã hết, hạnh phúc đã mất từ đây, nàng chỉ còn “thịt nát xương mòn” nơi “chín suối”. Lời nàng nghe tủi buồn như tiếng khóc. Về cả lý và tình Vân không thể chối từ. Nàng tác động vào tình cảm ruột thịt ở Vân, vì xót tình máu mủ ai nỡ chối nhau? Nàng đã gợi dậy ở em đức hi sinh, lòng vị tha vì người thân. Nếu được thỏa nguyện, dẫu chết đi, dưới suối vàng nàng cũng được thanh thản ngậm cười với tiếng thơm là người trọn nghĩa, lây thơm sự hi sinh cao cả của em.

Nói xong lời thỏa nguyện bình sinh và hàm ơn với em, Kiều trao lại cho em kỉ vật tình yêu của nàng với Kim Trọng:
Chiếc vành…của chung
Trao kỷ vật là phút giây thiêng liêng bởi đây là khoảnh khắc cuối cùng của Trao duyên. Đây cũng là lúc Kiều chính thức trở thành người thứ ba, đi bên lề hạnh phúc của người khác. Phải chăng vì thế mà kỷ vật được trao chia cắt rời rạc nằm trong từng đoạn thơ nhỏ: chiếc vành, bức tờ mây rồi đến phím đàn, mảnh hương nguyền. Mỗi kỷ vật trao cho Vân là một mảnh tình yêu cuối cùng tuột khỏi tay Kiều. Với Vân, ấy là vật vô tri, nhưng với Kiều mỗi kỷ vật là cả một trời ký ức, là nhân chứng cho một tình yêu hạnh phúc, là lời thề nguyền gắn bó trăm năm. Duyên thì trao cho em, nàng dặn dò em phải giữ gìn, nhưng khi trao em kỉ vật, nàng lại khong nỡ buông rời. Lòng đầy tiếc nuối, lưu luyến, lời của nàng như tiếng nấc nghẹn ngào. Lý trí và tình cảm giằng co, dày vò nàng: lý trí thì muốn trao đi, trái tim lại dùng dằng níu giữ lại. Nàng trao duyên mà không trao tình, trao lại kỉ vật cho em mà lòng không dứt được khỏi mối tình với Kim Trọng. Đau xót làm sao khi buộc phải cắt đứt tình riêng của mình ra thành của chung!Trong câu thơDuyên này thì giữ, vật này của chung có lẽ là thoáng thảng thốt giật mình, là phút mà tiếng nói của lý trí đã bắt đầu xao động. Hiếu đã trả, Tình đã trao, bước qua ranh giới ranh giới cuối cùng của trao duyên, Kiều sẽ còn lại gì? Cho nên câu thơ  là cả bao nhiêu sự giằng xé, níu kéo khủng khiếp trong tâm hồn, con tim của Kiều. Nguyễn Du đã thể hiện nội tâm của Kiều một cách tinh tế và nhân bản.
Biết vậy nhưng Thúy Kiều cũng đã trao cho em với tất cả tấm lòng tin cậy của tình ruột thịt, với tất cả sự thiêng liêng của tình yêu với chàng Kim. Từ nay, những kỉ vật Kiều trao lại cho em còn là vật làm tin nhắc nhở đến Kiều, để khi Vân có được hạnh phúc thì đừng quên Kiều:
Dù em..
….thác oan
Ý nghĩ của Kiều thật chua chát, buồn tủi. Nàng thấy mình là “người mệnh bạc”, đáng thương xiết bao.Trong nỗi đau mất mát tình yêu, nàng coi như mình là người đã chết. Tâm thức đang chìm dần trong nỗi đau khôn nguôi. Bắt đầu từ đây Kiều mới thực sự cảm nhận được cái bi kịch của đời mình, bi kịch của sự mất mát, bi kịch của nỗi cô đơn. Đang ngồi với em ở hiện tại, nàng đã tưởng tượng ra linh hồn bơ vơ của mình ở tận mai sau, là linh hồn vật vờ nơi lá cây ngọn cỏ. Ý nghĩ về cái chết cứ trở đi trở lại ám ảnh Kiều. Không phải tự nhiên mà trong một đoạn thơ ngắn mà Nguyễn Du để dày đặc những từ ngữ hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp nói đến cái Chết, đến cái Hư Vô. Bởi, sau khi trao duyên, trao kỉ vật cho em, Kiều cảm thấy như mình đã chết; tình yêu của nàng quá thắm thiết sâu nặng nên khi mất tình yêu, cuộc sống đối với nàng chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Nhưng dẫu cho phải chôn thân xứ người, nàng Kiều nguyện sẽ trở về đền đáp mối tình của chàng Kim, bởi linh hồn còn nặng lời thề thủy chung cùng Kim Trọng. Cho nên dẫu “thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ ngọn cỏ lá cây”, với “ hiu hiu gió…” để trở về đền đáp.
 Đó là một ý thức, một tấm lòng thủy chung càng đậm đà trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Nàng coi cái chết của mình là cái chết oan uổng, nên cầu xin ở người sống một chén nước giải oan-một sự cảm thông cho nỗi oan khuất của người buộc phải phụ bạc tình yêu. Nàng tưởng tượng đến lúc mình đã chết, oan hồn trở về lẩn quất bên chàng Kim. Khi đó, âm dương cách biệt, chỉ có chén nước mới giải được mối oan tình. Lời tâm sự sao mà thương!
Trong phút giây nỗi đau trào dâng mãnh liệt, nàng bỗng quên đi thực tại, quên đi người em trước mặt. Nàng rơi vào trạng thái độc thoại. Nỗi bất hạnh hiện lên thật trọn vẹn, cụ thể khiến nàng Kiều vô cùng tuyệt vọng:
 Bây giờ..
…ấy thôi
Bao nhiêu tình cảm yêu thương cũng như nỗi đau đớn tuôn trào ra. “trâm gãy gương tan”, tình yêu tan vỡ khiến tơ duyên ngắn ngủi. Lời thơ như tiếng khóc. Tuy đã trao duyên cho em để trọn nghĩa với người yêu, Kiều vẫn không thôi day dứt, coi mình là kẻ phụ bạc, chịu muôn vàn tội lỗi. Không giữ được trọn lời thề nguyền với chàng, nàng đành gửi chàng trăm nghìn lạy tạ lvô cùng thống thiết, đó là cái lạy tạ tội để vĩnh biệt tình yêu, kết thúc mối tình ngắn ngủi đầy tiếc nuối. Câu “tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi” Kiều thốt lên sao mà chua chat, cay đắng như vị chia li.đến đây Kiều mới thấm thía đến cùng cực nỗi bất hạnh của mình:
Phận sao…
……….lỡ làng

Đó là lời than oán số phận bất hạnh “bạc như vôi” của Kiều. Rồi từ đây cuộc đời nàng trôi dạt; tình yêu dở dang với nàng cũng đồng nghĩa với cả cuộc đời lỡ làng, lênh đênh chìm nổi. “Nước chảy hoa trôi” là cảnh xuân tàn hoa rụng, tuổi trẻ hạnh phúc chấm dứt từ đây. Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu , nàng quên rằng trước mặt mình là Thúy Vân mà than khóc với Kim Trọng. Trong những phút cuối cùng, nàng cất tiếng thống thiết gọi người yêu:
Ôi Kim lang..
….từ đây
“Thôi thôi” là phút dứt sợi tơ tình. Trao duyên nhưng hóa ra lại là phụ tình. Nhịp thơ cắt 3/3 như tiếng nấc nghẹn ngào và sau đó bao nhiêu đau đớn vỡ òa. Tiếng khóc của Kiều chới với, tuyệt vọng, tiếng khóc vĩnh biệt tình yêu trong đau đớn, bi kịch. Chỉ một từ “phụ” mà nói lên biết bao nhiêu về nhân cách cao đẹp của Kiều. Dù trong đau đớn, bất hạnh, nàng vẫn lo lắng cho hạnh phúc của người yêu, vẫn thương người yêu hơn chính bản thân mình; nàng nhận hết tất cả lỗi về mình. Tấm lòng vị tha, cao thương của Kiều thật hiếm có.
Lời trao duyên như lời trăn trối vĩnh biệt. Trước khi trao duyên, Kiều còn ý thức sống, sau khi trao duyên, nàng đã coi mình là oan hồn chín suối.  Tình yêu tan vỡ với Kiều là hạnh phúc cả đời đã mất, cuộc sống chẳng còn ý nghĩa. Bi kịch tình yêu ở nàng gắn liền với bi kịch cuộc đời, thân phận bất hạnh. Song dù trong đau đớn, nhân cách nàng vẫn sáng ngời.
Đoạn thơ, trừ những câu đầu tâm sự với Thúy Vân, trao duyên cho Thúy Vân, còn thực chất là đoạn độc thoại nội tâm của Thúy Kiều. Với nghệ thuật thể hiện tài tình, Nguyễn Du giúp người đọc nhìn thấu tâm trạng đau khổ của Thúy Kiều. Càng hiểu nàng bao nhiêu, ta càng thương và cảm phục nàng bấy nhiêu.

Đoạn “ trao duyên” trong “ Truyện Kiều” là một khúc “ đoạn trường” trong thiên “ Đoạn trường tân thanh”. Bằng  tấm lòng yêu thương sâu sắc đối với người phụ nữ bất hạnh và bằng nghệ thuật tuyệt vời , Nguyễn Du đã dựng lại đoạn “ trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lí, sự vận động nội tâm nhân vật. Chỉ qua đoạn trao duyên , chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh , có ý thức về tình yêu và cuộc sống.