Nếu phải nói về bản thân...



Ngô thị Thu Thủy

17/11

Giáo viên

Thạc sỹ văn chương

Phật tử tại gia

Đọc sách trồng hoa làm bánh ngắm trẻ con du lịch một mình




**************************************************************************************

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

NỖI ĐAM MÊ CỦA LOL V STEIN - MARGUERIT DURAS


Ngô thị Thu Thủy 
1.Tóm tắt tác phẩm
Câu chuyện này khó tóm tắt. Nó không có một cốt truyện điển hình. Người kể chuyện chỉ kể nó theo tiệm tiến thời gian, có đan xen ký ức. Câu chuyện do đó không liền mạch, không có kết cấu văn bản chặt chẽ kiểu truyền thống. nó thực chất là câu chuyện của sự cô đơn, nỗi đau riêng và bản sắc rối loạn. Đó cũng là một đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại.
Lola Valery Stein trải qua thời thiếu nữ êm đềm của mình trong nhận định của mọi người  là cô gái xinh đẹp dịu dàng nhưng rất đỗi vô tâm; trong lòng dường như có nỗi buồn khổ không gọi tên được song cô không từng khóc bao giờ. Có cái gì đó ở cô khiến cho người ta nghĩ rằng trái tim cô còn là trái tim trẻ con, ở đó có một sự lơ đãng bệnh tật.Cô có khiếm khuyết gì đó trong tâm hồn và đó là nơi khởi phát mầm mống của căn bệnh mất trí của cô sau này.
Cô yêu và đính hôn với một thanh niên đẹp trai giàu có trong sự ngạc nhiên của hầu hết mọi người, nhất là cô bạn gái thân Tatiana. Tatiana luôn cho rằng đó là sự nhầm lẫn của Lola và đồng thời cũnglà một biểu hiện của sự mất trí nơi cô.
Trong một đêm khiêu vũ, vị hôn phu của cô đã yêu say đắm một người đàn bà lớn tuổi. Sự phản bội trắng trợn đó ngay trong đêm vũ hội trước mắt mọi người có thể là nguyên nhân khiến cô loạn trí. Lola rất khó khăn để bình phục sau đó, rồi nhận lời cầu hôn của một người đàn ông rộng lượng. Cô lập gia đình, có con và xa quê hương trong mười năm. Suốt mười năm đó cô sống bình yên như một phụ nữ bình thường, song chồng cô luôn cảm nhận thấy ở cô một điều bất ổn..một cái gì đó sâu thẳm trong cô sẽ rạn vỡ một ngày, bởi cô dường như không sống ở thì hiện tại và sự rối loạn bản sắc cho thấy biểu hiện bề ngoài và những điều cô suy nghĩ không thống nhất với nhau, cho dù anh có thể khẳng định tình yêu của cô với kẻ phản bội kia đã chết và cô không còn đau khổ vì hắn. Anh đã cứu vớt cuộc đời cô.
Họ trở lại sống ở thành phố quê hương cô sau mười năm. Cô tình cờ gặp lại bạn gái cũ Tatiana- đã có chồng và bị thu hút bởi người tình của bạn. Lola do thám mối quan hệ cuả bạn mình và người đàn ông đó, nhưng bị anh ta chú ý.Các nhân vật đó  nhận ra nàng chưa bao giờ khỏi bệnh và nàng không hề biết gì về những điều đã xảy ra cho mình xung quanh buổi dạ vũ năm đó. Nhưng cũng có thể nàng nói dối về tất cả. Không ai có thể tiếp cận tâm hồn nàng,cũng không thể rời xa nàng, và dường như càng ngày họ càng biết ít hơn về nàng, hoặc giả như nàng là một con người không thể biết được. Với Jacques Hold, người tình của Tatiana, Lola cũng không biết nàng muốn gì ở anh ta, dù nàng đã chọn anh. Nàng bày tỏ tình yêu với anh nhưng không cho phép anh rời bỏ Tatiana. Jacques có lúc có cảm giác anh bị sử dụng thay cho người tình bất tử năm xưa của nàng, bởi vì nàng lẫn lộn hiện tại và quá khứ, “nàng không nhận ra ai là ai, ai trước ai sau, hiện tại và quá khứ, hòa lẫn tất cả làm một”. một ngày nàng có dự định trở lại căn phòng khiêu vũ năm xưa cùng Jacques. Họ qua đêm với nhau và Jacques quyết định gặp  Tatiana lần cuối.


2.Dấu ấn chủ nghĩa hiện đại
Điều có thể dễ nhận thấy ở cuốn tiểu thuyết này của Duras là một sự trải nghiệm mới khác của người phụ nữ luôn đam mê bứt phá với th nghiệm.
 Nếu như tiểu thuyết Đập ngăn Thái Bình Dương được viết theo lối văn truyền thống với các tình tiết xây dựng trên cùng một trục thời gian, với cách sử dụng thống nhất một đại từ nhân xưng trong suốt câu chuyện thì tác phẩm Người tình ra đời năm 1984, 34 năm sau đó, lại gây sốc bởi một lối viết "không giống ai".Trong cuốn Viết, Duras đã nói về cái mà bà gọi là "văn chương của cái-không-viết-ra", một thứ văn chương chỉ có thể có được khi người cầm bút dám vượt lên trên mọi phê bình chỉ trích để tìm đến với cái mới mẻ. Mắt xanh tóc đen là một cuốn tiểu thuyết còn dữ dội. "Đó là câu chuyện về một tình yêu vĩ đại nhất và khủng khiếp nhất mà tôi từng viết. Tôi biết thứ tình yêu ấy. Người ta giữ nó cho riêng mình". Tình yêu này không có danh xưng. Nó cũng không có từ ngữ..”
Quá trình theo đuổi nghiệp viết của Duras cho thấy bà luôn tìm cách làm mới mình, luôn tìm cách phá vỡ mọi nguyên tắc, mọi thông lệ văn chương.
Có một thứ văn chương của cái-không-viết-ra. Một ngày nào đó nó sẽ đến. Một thứ văn chương ngắn gọn, không ngữ pháp, một thứ văn chương chỉ toàn các từ.
Đó phải chăng có thể là “Nỗi đam mê của Lol V Stein” với một kỹ thuật viết rất mới thời đại ấy- kỹ thuật dòng ý thức? Vậy kỹ thuật tự sự dòng ý thức là gì?
Theo từ điển Wikipedia, dòng ý thức là một thuật ngữ văn học chỉ một xu hướng sáng tạo văn học (chủ yếu là văn xuôi) khởi điểm từ đầu thế kỷ 20, tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, xúc cảm và liên tưởng ở con người.
Thuật ngữ tiếng Anh "stream of consciousness" được nhà tâm lý học người Mỹ William James đưa ra trong cuốn The Principles of Psychology (Cơ sở tâm lý học) xuất bản năm 1890, khi cho rằng ý thức là một dòng chảy, một dòng sông mà ở đó những tư tưởng, cảm xúc, liên tưởng bất chợt luôn lấn át nhau và đan bện một cách kỳ quặc, "phi logic". Ở một phương diện khác, có thể nói dòng ý thức là mức tới hạn, là dạng cực đoan của độc thoại nội tâm. Là một kiểu dạng đặc biệt của độc thoại nội tâm,kỹ thuật tự sự dòng ý thức thể hiện dòng chảy bất tận của ý thức cá nhân trên cảm nhận của các giác quan cá nhân. Dựa trên sự kết hợp tự do của ý thức và hình ảnh, ngôn ngữ trong tự sự dòng ý thức dường như không có sự mạch lạc ngữ pháp nhưng nó không thực sự sử dụng độc thoại nội tâm.  
Ở những tác phẩm chủ yếu của văn học dòng ý thức như tiểu thuyết của Marcel Proust, Virginia Woolf, James Joyce sự quan tâm đến cái chủ quan, bí ẩn trong tâm lý con người trở nên sắc nhạy tới mức tới hạn; sự phá vỡ cấu trúc trần thuật truyền thống, sự xáo trộn các bình diện thời gian và đôi khi mang tính chất là sự thể nghiệm hình thức. Tác phẩm được xem là trung tâm và đỉnh cao của văn học dòng ý thức, tiểu thuyết Ulysses đã đi đến cùng những khả năng nghệ thuật của xu hướng này: sự nghiên cứu đời sống nội tâm con người kết hợp với sự xói mòn ranh giới tính cách, sự phân tích tâm lý đôi khi trở thành mục đích tự thân. Những sáng tác của James Joyce đã ảnh hưởng rõ rệt đến văn học châu ÂuHoa Kỳ; phần đông các nhà văn lớn đều trải qua thời kỳ say mê dòng ý thức và kinh nghiệm của nó còn in đậm trong nhiều sáng tác của họ (Ernest Hemingway, William Faulkner, Aldous Huxley, Graham Greene...) trong đó có Marguerite Duras.
Trong “Nỗi đam mê của Lol V Stein”, Marguerite Duras đã thể nghiêm một cách xuất sắc kỹ thuật viết mới này, khiến cho thiên ký ức của Lol V Stein trở nên ám ảnh người đọc một cách sâu sắc. Đó chính là một nét mới của chủ nghĩa hiện đại trong tiểu thuyết của Duras nói chung.
Trước hết, cần thấy tư tưởng nghệ thuật về hiện thực trong tác phẩm như thế nào.
a.Hiện thực tư tưởng
Hiện thực trong tác phẩm được tái hiện trong tác phẩm chủ yếu thông qua cái nhìn- thế giới tinh thần của các nhân vật thuộc tầng lớp thượng lưu, trong đó có nhân vật loạn trí, có nhân vật bị ám ảnh bởi kẻ loạn trí. Sự phi tâm hoá của tổ chức trần thuật một mặt giúp nhà văn mở rộng ngưỡng cửa sáng tạo, khơi sâu hiện thực tâm tư trong các nhân vật.Họ sống trong một thế giới buồn tẻ, chán nản, không bằng lòng, có sự rạn vỡ và cô đơn. Bản thân họ cũng không thể vượt qua  giới hạn của bản thân để hiểu nhau một cách sâu sắc. Đáng chú ý là hai cô gái trẻ Tatiana và Lola: họ không có thú vui gì khác ngoài việc nhảy theo bản nhạc của một chương trình radio cũ rích sau giờ tan học.
Và đó là cái hiện thực vây quanh Lol V Stein. Trong cơn mê sảng nhiều ngày liền sau cơn chấn động, Lola đọc to tên mình, liên tục phàn nàn vô cùng mỏi mệt khi phải chờ đợi một điều gì đó. Nàng cần cái gì lấp đầy sự trống vắng. Nàng than vãn liên tục về sự buồn chán. Không ai biết nàng nghĩ gì, hỏi nàng nhưng  nàng không hiểu câu hỏi. Phải chăng nàng trả giá vì sự hờ hững trước nỗi đau khổ của chính mình trong đêm vũ hội định mệnh, nơi  nàng đã bị phản bội một cách bẽ bàng? Tình yêu với Micheal chấm dứt nhưng nàng không bao giờ lấy lại toàn bộ lý trí như trước nữa. “Thời gian đối với tôi quả thật là dài”, nàng nói.
Và từ đó, nàng không thoát ra được bầu không khí đó, suốt cuộc đời.
Các nhân vật nam rồi nữ, họ kết hôn và có con cái, cuộc sống không có gì thay đổi. Tatiana chán nản với người chồng bác sĩ, nàng có người tình là Jacques Hold. Lola suốt mười năm sống với chồng cũng lặng lẽ như cái bóng, không có việc gì khác ngoài việc dọn dẹp bài trí nhà cửa, chợ búa, chăm lo giờ ăn giấc ngủ cho bọn trẻ.Thì giờ còn lại nàng lang thang vô định trên những con đường, thả cho trở lại với ký ức trước đây. Phải chăng chính cái không khí tẻ nhạt ấy là một nguyên nhân thúc đẩy Lola phiêu lưu vào cuộc tình tay ba với bạn gái thân và người tình của bạn, bất chấp hậu quả.
-                      Anh luôn chờ đợi cái ngày sẽ xảy ra một chuyện gì đó.
-                      Chúng ta sẽ đi đến một điều gì đó. Thậm chí nếu không có sự cố nào xảy ra thì chúng ta vẫn tiến đến một đích nào đó.
-                      Đích nào cơ chứ?
-                      Em không biết. Em chỉ biết một điều là cuộc sống quá đơn điệu. Bởi vậy khi nào sự đơn điệu ấy chấm dứt em sẽ biết đích xác.
Trong nỗi buồn chán, nàng cố lắng nghe một tiến ồn ào từ trong tâm khảm nhưng nàng bất lực, kết quả điều mong muốn không thành đạt đã xâm chiếm lấy nàng..nàng vẫn luôn trong trạng thái nửa biết nửa không về tương lai do mình quyết định. “Liệu chúng ta sẽ biến nó thành cái gì”, nàng hỏi.
Còn Tatiana, “bị những lời nói dối bao quanh, nàng thấy chóng mặt và nghĩ đến cái chết và đến nước mắt để nàng đắp lên cái vết bỏng kia vì rằng sự thật sẽ xảy ra”. Một ngày nào đó nàng phải chấp nhận mãi mãi trở lại với chồng buồn tẻ của mình. Tatiana cố gắng trong tuyệt vọng muốn biết được điều mang lại hạnh phúc cho bạn mình là gì, đồng thời “nỗi sợ hãi ám ảnh nàng”: phải chăng đó có thể là Jacques? Phải chăng hai người than yêu của nàng cướp mất hạnh phúc của nàng?
Còn chính Jacques, anh lại đang sợ hãi chính mình cũng đang bị lừa và có thể sẽ bị lừa bởi sự điên dại của Lola.
Các nhân vật của thiên truyện bị mắc kẹt trong một thế giới mà không có gì họ khao khát thuộc về họ, dành cho họ. Cả Lola và Tatiana đều không nắm chắc được khát vọng trong tay. Lola chìm ngập trong ký ức- theo kiểu của người khuyết tật thần kinh, Tatiana bị nỗi sợ hãi ám ảnh khi đối diện với thế giới tẻ nhạt không có người tình Jacques Hold. Cũng trong thế giới rối loạn bản sắc ấy, không làm sao ta nhận diện được nhân vật bằng cách chúng ta nhìn thấy họ. Không có một điều gì nhất quán mạch lạc đằng sau gương mặt của Lola. Chính vì vậy mà những người gần gũi nàng nhất, chồng, bạn gái, người tình..đều không sao tiếp cận được với tâm hồn nàng. Nàng tha thiết với họ đấy, nhưng toàn bộ sự tồn tại của họ với nàng cũng không có ý nghĩa gì mấy. Nói tóm lại, họ không thể biết nhau và càng không thể hiểu nhau. Nỗi cô đơn vì vậy đeo đuổi họ, ám ảnh họ.
Và đó là thê giới của nỗi đau không gọi tên được, của cô đơn, của cá thể lạc lõng. Tất cả ta biết về những điều đó là nhờ thông qua những mảnh chắp vá của ngôn ngữ đối thoại, của đối thoại rơi vào trống không, của dòng ý thức.
b.Nhân vật
Nhân vật của chủ nghĩa hiện đại luôn cảm thấy hoài nghi, lạc loài, vong thân, hồ nghi về tồn tại và tự mình luôn cảm thấy bất an trước cuộc sống thiên biến vạn hóa.Họ chính xác là nạn nhân thần kinh của xã hội tư bản hiện đại.
Nhân vật trung tâm của thiên truyện là một cô gái bị mất trí. Vẻ bè ngoài hiền lành, dịu dàng, yên ổn của nàng không nói lên được điều gì trong nội tâm của cô. Không ai dám chắc Lola đã khỏi bệnh sau chấn động đó, cũng không thể dám chắc nàng có yêu người đàn ông ấy bội bạc ấy không, và có đau khổ hay có còn đau khổ vì anh ta không. Dường như cái chấn thương kia -theo cách nhìn của người đời thì nguyên nhân là do bị phản bội tình yêu- lại không phải là lý do cho căn bệnh của nàng. Tatiana không tin vào vai trò quyết định của đêm vũ hội đáng ghi nhớ ấy trong nỗi đau của Lol…Căn bệnh vốn nảy sinh trong Lol ngay từ khi nàng còn nhỏ, nhưng vì nàng luôn sống trong tình cảm lớn lao của gia đình và bạn bè nên nó không được bộc lộ ra…ở Lol có một cái gì đó không ổn. Nàng làm cho mọi người có cảm giác là nàng luôn sống trong nỗi đau buồn sâu lắng, thế nhưng bất chợt nàng có thể quên ngay người đã làm cho nàng u sầu. Lola rất dịu dàng nhưng người ta cũng có thể phát hiện một cách nhanh chóng sự lãnh đạm khủng khiếp của nàng. Nàng chưa bao giờ cảm thấy khổ sở hay đau đớn; chưa bao giờ người ta thấy trên mặt nàng một giọt lệ…bọn con trai tranh nhau tán tỉnh nàng nhưng họ cũng biết  nàng có thể tuột khỏi tay họ bất cứ lúc nào, vì họ phải cố gắng lắm mới có thể chiếm được một cái gì thuộc về nàng.
Vì vậy nên tin về lễ đính hôn khiến của Lola khiến Tatiana ngạc nhiên: phải chăng Lol đã tìm được một người có khả năng chiếm toàn bộ sự chú ý của nàng, hay là Lol đã kết thúc thời kỳ chưa hoàn thiện của trái tim mình?
Đã có đôi lần tôi hỏi Tatiana rằng cơn khủng hoảng sau này của Lol có chứng tỏ rằng nàng đã nhầm không, nàng nhắc lại là không và tin rằng sự khủng hoảng đó với sự nhầm lẫn ở Lol chỉ là một”. Đó là cách lý giải khả dĩ nhất về căn bệnh đãng trí ngơ ngác của Lola.
Trong đêm vũ hội, trước mắt nàng, vị hôn phu và người đàn bà nọ nhảy với nhau một cách say đắm. Nhưng ngay cả khi thấy sự thay đổi trên gương mặt vị hôn phu, điều đó cũng ko làm nàng tỏ ra đau khổ chút nào.
Chỉ khi mẹ nàng chạm vào nàng, nàng mới hiểu rằng mọi sự sẽ chấm dứt, nhưng còn mơ hồ, chưa phân biệt rõ sẽ như thế nào. Nàng trở thành nạn nhân của một sự phản bội khủng khiếp. Đôi tình nhân bỏ đi và nàng ngã lăn ra bất tỉnh.
Rồi nàng lấy chồng, chỉ sau một lần gặp. Mười năm bên cạnh chồng, nàng lúc nào cũng như đang mơ ngủ. Chồng nàng đôi khi có những cơn sợ hãi chính căn nhà do vợ mình sắp đặt, khi không có nàng ở đó. Anh sợ một ngày nào đó anh sẽ phải nghe những tiếng đổ vỡ như tiếng vỡ vụn của những tảng băng mùa đông. Vợ anh thủy chung, trầm lặng, dịu dàng. Nhưng anh mơ hồ thấy ở nàng ngày nào đó, điều gì đó trong nàng sẽ thức tỉnh và rạn vỡ. Nàng là một nguy cơ. Ở những con bệnh thần kinh luôn có những nguy cơ khiến chúng ta sợ hãi. Ngay cái việc nàng không bao giờ đau khổ cũng khiến người ta sợ hãi nàng. Như người ta sợ người điên, không phải vì những cơn chấn động tâm lý bộc phát mà là vì ở họ có cái gì không yên ổn, đầy ám ảnh, méo mó. Họ có thể tuôn ra những tràng cảm thức vô nghĩa mà với họ nó phải có một ý nghĩa nào đó.“Cô ta bị điên và cô ta sẽ không bao giờ đau khổ, anh có biết như vậy không?”Tatiana nói. Nàng quan tâm tới bạn nhưng nagf thự sự nghĩ về bạn mình như nghx về một người điên đáng sợ: một cách thường xuyên, Lola tuôn ra những lời nghe thì có vẻ khôn ngoan tỉnh táo của một người phụ nữ lịch lãm tế nhị, nhưng sự nghễnh ngãng của nàng cho thấy nàng từ lâu đã không sống với hiện tại hiện hữu. Nàng thuộc về nơi nào khác trong quá khứ và nàng dường như không biết.
Một nhân vật đáng lưu ý nữa đó là Jacqué Hold. Anh là bạn của chồng Tatiana, cũng là tình nhân của nàng. Bề ngoài có vẻ Jacques là anh chàng vật chất, say mê phụ nữ và đặc biệt và người đàn bà quyến rũ Tatiana. Nhưng gặp Lola, anh ta nhanh chóng bị cuốn hút bởi vẻ đãng trí ngơ ngác dịu dàng của nàng, dù trí óc nàng tẻ nhạt kinh khủng đối với anh. Anh yêu nàng và sợ mất nàng. Tình yêu đó có thể nói là hoàn toàn thuần khiết. Anh đứng chới với giữa hai bờ: tình yêu đầy màu sắc nhục dục với Tatiana và một tình yêu đầy lo âu thảng thốt nhưng rất trong lành với Lola. Đôi lúc ta thấy thương Jacques, thấy anh ta đau đớn không biết mình là ai đối với Lola, có thể là hình ảnh của Micheal- người tình bất tử của Lola chăng, có thể chỉ là một chỗ dựa của nàng trong những cơn phiêu bồng về quá khứ chăng, có thể anh bị nàng lừa chăng…Jacques Hold thực sự bị cuốn hút vào thế giới của Lol- một kiểu cuốn hút khiến người ta mất tỉnh táo- và dường như có lúc anh chạm được vào đáy lòng nàng, nhưng rồi lại thấy ở nàng một con người xa lạ.
Không có kiểu nhân vật truyền thống với tính cách điển hình. Trái lại, nhân vật của Duras lạ lùng. Khó hiểu, khó nắm bắt, thậm chí không thể lý giải, không thể tiêp cận. Không hẳn vì lý do họ điên và khốn khổ vì một người điên, ở đây, ta không đi tìm một kiểu mẫu nhân vật và càng không thể vin vào những câu nói, những cảm xúc của họ để mà phán xét họ là người như thế nào một cách có lý luận. Cũng không phải họ xa lạ với hiện thực. Họ bí ẩn, tâm hồn họ phức tạp, ý thức của họ phi logic, câu chuyện cuộc đời họ  và chính cuộc đời họ họ không có ý nghĩa với sự tiệm tiến thời gian.Câu chuyện không có kết thúc về Lola Valerie Stein chỉ là một câu chuỵên về nỗi đau không hiểu được, về sự nhiễu loạn mối quan hệ giữa biểu hiện và nội tâm, về những uẩn khúc của thế giới tinh thần sâu xa của con người. Và tất cả những điều ấy được biểu hiện bằng lối kể miên man đầy cảm giác, bất chấp yêu cầu mạch lạc về ngữ nghĩa..

c.Ký ức- thời gian- không gian
Ký ức và tâm thức cũng chính là hai hiện thực có tính trội trong tiểu thuyết hiện đại. Nỗi đam mê của Lol V Stein là một thiên tiểu thuyết lãng đãng đầy những tạp ghi rối loạn của cô gái khiếm khuyết thần kinh Lola Valerie Stein.
Bằng kỹ thuật tự sự dòng ý thức, Duras dẫn ta vào một vùng kí ức, mộng huyễn của nhân vật này. Ký ức bám chắt lấy Lol. Hiện thực đã trở thành hoa đốm hư không như là hiện thực hiện sinh trong trí tưởng của nhân vật. Tatiana và Jacques đã làm những cuộc thăm dò đi sâu vào tâm tư sâu kín của Lola nhưng bất lực trước một cánh cửa đóng chặt. “Làm ơn hãy nói điều gì đó đi, Lol”, “Cô muốn gì, Lol”…
Marguerite Duras chú tâm miêu tả rất kỹ tâm lý Lola  trong những cuộc đi dạo bất định. Trước khi đi dạo, nàng thu vén việc nhà chu đáo. Nếu trời mưa không đi dạo được thì nàng không mó tay vào việc gì cả, chứng tỏ những cuộc dạo chơi ấy rất có ý nghĩa với nàng.
Nàng đi dạo là thuần túy đi dạo, dù không mục đích, không bận rộn thì nàng cũng không làm gì trong khi đi dạo. trong những lúc đó, nàng có nhiều suy nghĩ, ý tưởng.Nhưng khi trở về nhà, không một ý tưởng nào có thể lọt vào nhà. Nàng luôn phải làm yên lòng mình sau những cuộc dạo chơi.
Ra khỏi nhà là những ý nghĩ ào đến với nàng. Những ý nghĩ ấy luôn nẩy sinh và hồi sinh và chỉ có một ý nghĩ theo Lol đến cùng. Cùng với thời gian nó theo đuổi Lol hơn bất cứ ý nghĩ nào khác, buộc nàng phải giữ lấy nó. Đêm khiêu vũ đó là phần sót lại duy nhất và đó là lý do nàng đi dạo. Nàng ấp ủ ý nghĩ ấy, nuôi sống nó và nó lớn dần lên để một ngày nào đó hồi sinh. Nàng đi vào trong ánh sáng đêm khiêu vũ hàng ngày, trong tưởng tượng, trong vòng vây chỉ dành riêng cho ánh mắt của nàng, tìm về quá khứ, điều khiển nó, sắp đặt chỗ ở của nó. Và trong rất nhiều chi tiết của đêm khiêu vũ chỉ có đoạn kết giữ nàng lại. Cái giờ khắc chính xác đánh dấu sự kết thúc của nó là khi ánh rạng đông xuất hiện cùng với sự thật tàn nhẫn ghê gớm là nàng bị bỏ rơi bởi một sự phản bội khủng khiếp và trong suốt 10 năm qua nàng sống qua từng ngày là nhờ phục hồi lại khoảnh khắc đó. Nhưng việc phục hồi lại ký ức của nàng chỉ dừng lại ở khoảnh khắc trước nghi nàng bất tỉnh và thực tế sau đó thì nàng đã không thể khôi phục lại lý trí… Nàng không có một ý niệm nào về cái chưa biết ấy. Nàng không gọi tên được cái nỗi đau của mình vì nỗi đau cũng như niềm vui của nàng chỉ là một mớ hỗn độn, nàng không gọi tên được cái nỗi đau đó  bởi vì nó thiếu một từ, nàng im lặng sống với ký ức suốt 10 năm bởi vì nàng biết sự tồn tại của cái từ đó.

Không có một thời gian logic của tư duy lý tính ở đây. Bình diện thời gian bị xáo trộn. Hiện thực thì tiệm tiến nhưng ý thức con người thì có thể đi đường vòng ngược trở lại. Nó có thể rời xa hiện tại, đến tương lai, về quá khứ, không chịu sự điều khiển cả chiều ánh sáng.Nó có thể là sự đan xen hòa trộn thời gian của quá khứ và hiện tại. Quá khứ trong ký ức của Lol thì mờ nhạt, khó định dung, hiện tại của nàng lại thiếu bản sắc một cách trầm trọng, nghĩa là nó không phải là của nàng. “chưa muộn đâu, trời mùa hè mà”, “thời gian với tôi quả là dài”…là những câu nói của Lol cho thấy sự mất dần ý thức của nàng về thời gian. Thời gian tâm lý được đặt cao hơn thời gian vật lý. Cấu trúc, tổ chức trần thuật kiểu truyền thống đã bị phá vỡ.
Và thế là cái quãng thời gian 10 năm đối với nàng hoàn toàn không có nghĩa lý gì cả. Hàng ngày nàng đi vào ký ức của mình, quanh quẩn với 3 nhân vật trong đó. Thời gian trôi qua, người yêu cũ chia tay người đàn bà kia, mẹ nàng mất, những đứa con ra đời..dường như không tác động đến nàng quá nhiều. Nàng chỉ còn sống với buổi vũ hội đã qua, đã bị chôn vùi. Nhưng nàng quá khôn khéo, hầu như lúc nào nàng cũng nói dối về nó để ngụy tạo một bộ mặt khác hẳn trước mắt mọi người.“Chỉ còn lại một dấu vết được giữ nguyên, một dấu ấn không thể xóa nhòa mà người ta không biết bắt đầu từ đâu. Nhưng cái gì chứ? Người ta có thể biết điều đó hay không. Không có một dấu vết nào cả, tất cả đã bị chôn vùi. Lol và tất cả.” Dấu vết đó chính là ký ức trở đi trở lại của nàng, đan xen trong hiện tại của nàng, khiến nàng lúc nào cũng lãng đãng, ngơ ngác..
Không gian tồn tại của Lola cũng không phải là không gian hiện thực, nó là không gian lờ mờ, không rõ nét. Nàng kể say sưa về ngôi nhà của nàng U. Bridge, nhưng ánh mắt lơ đãng của nàng, lời nói của nàng lại cho người khác thấy cái nàng đang nói đên là thế giới khác, trong ký ức, ở Stahla, đêm vũ hội. Nàng rõ ràng không có nhiều ý niệm về hiện tại, nhất là khi nàng buộc phải nói dối. Không gian của ngôi nhà có giới hạn là không gian thực. Không gian của những ngả đường bát ngát, của cánh đồng, là không gian nàng gửi thân xác để tâm tư thoải mái phiêu bồng về ký ức.
Nhưng  nàng nói rằng nàng đã không còn ở chỗ của mình. Những kẻ phản bội đã dẫn dắt nàng đi rồi bỏ nàng lại một mình. Với nàng đó là “một sự đổi chỗ”. Trái tim nàng vốn dĩ đã không nằm đúng chỗ của nó. Và thế là cú shock ấy đã trực tiếp đưa nàng đến một không gian khác, nàng đã lạc trong không gian ấy suốt 10 năm.
Thế giới bề sâu  này đã được S. Freud phát hiện luôn chiếm vị trí trung tâm trong tinh thần con người. Trước một kẻ loạn rí như Lola, Tatiana và Jacques đã đẩy cuộc thăm dò vô thức trong nàng đi xa nhất có thể, nhưng bất lực.
d.Ngôn ngữ.
Đây quả thực là một tiểu thuyết khó đọc. Ngôn ngữ miêu tả huyễn hoặc, siêu tưởng. Đối thoại của nhân vật có quá nhiều khoảng trống. Họ nói và họ nghĩ những điều hoàn toàn khác nhau, lúc họ nói lại càng khác nữa. Họ đuổi bắt nhau trong những lời nói dối, họ dò xét nhau, van xin nhau nói lên điều gì đó trong tâm tư..họ bất lực trước cánh cửa đóng chặt của mỗi tâm hồn.
Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật bề ngoài có vẻ ăn khớp với nhau, có tính logic, nhưng nếu đọc thêm lần nữa ta sẽ thấy họ không theo đuổi cùng một mục đích đối thoại. Họ thăm dò nhau, khám phá nhau, nói dối nhau, lảng tránh nhau bằng những cách rất tinh tế.
Độc thoại nội tâm chủ yếu là của nhân vật Jacques. Anh cơ bản là một người đàn ông tinh thần lành mạnh, nhưng bên cạnh người tình ngơ ngác Lola, anh rơi vào trạng thái hỗn loạn của cảm xúc: chới với giữa hai người phụ nữ, chới với trong tình yêu của Lola và hoang mang về chính mình, về sự thực. Nhân vật đã có những lời độc thoại đầy huyễn hoặc, đầy đau đớn. “Khoảng trống là bức tượng. Để bức tượng ở đây là câu nói, khoảng trống là Tatiana trần ruồng dưới mái tóc đen: sự thực. Nó biến đổi diệu kỳ, sự thật không còn chứa đựng sự thật nữa.Tatiana thoát khỏi chính bản thân nàng, lảng bảng qua các cửa ngõ, trong thành phố, trên các con đường, trong bùn, chất lỏng, ao tù cảu sự trơ trẽn. Nàng đây rồi, Tatiana Karl, trần truồng dưới mái tóc đen…Câu nói vừa mới tắt, tôi chẳng còn nghe thấy gì nữa, đó là khoảng im lặng chết dưới chân Lol, Tatiana nằm vào chỗ của nó…Chúng tôi có hai người trong lúc này đang nhìn Tatiana trần truồng dưới mái tóc đen.
Và đáp lại sự mong đợi của Tatiana, Lola chỉ trả lời bằng những câu nói kiểu như:
“Mình chẳng mong muốn gì ở dó cả, cậu hiểu chứ Tatiana, mình chẳng muốn điều gì về những cái đang có và đang xảy ra. Chẳng có gì giữ được cả”.
Khoảng trống, sự im lặng trong tiểu thuyết cũng là một yếu tố cấu trúc đậm màu sắc hiện đại. Các nhân vật đối thoại bằng những điều mơ hồ, điều họ tự nói ra với lòng mình cũng đầy huyễn hoặc. Khoảng trống im lặng của họ cũng không thể rõ ràng phát biểu lên được một điều gì logic.
“Tiếng đàn violon ngừng lại, để lại đằng sau nó khoảng im lặng trống hoắc”.
“tôi lại chìm vào những điều tưởng tượng. Họ vẫn im lặng mãi thế nhỉ, Tatiana nghĩ mình đã quen rồi, mình cũng biết làm cho anh ấy im lặng, ngây ngất hoặc buồn chán..Anh ấy im lặng với Lol V Stein, anh ấy vẫn thường giữ im lặng với mình, thậm chí lần đầu tiên khi anh ấy đến nhà tìm mình khi Pierre không ở nhà, không nói nửa lời, aanh ấy dẫn mình đến khách sạn “những khu rừng”.
“Ánh rạng đông u ám lan khắp kéo đến. Một sự im lặng ghê gớm bao trùm lên tất cả, nhận chìm tất cả.
“Chỉ riêng cái nhìn của nàng cũng đủ làm cho tôi ngất đi. Nó không cần thêm bất cứ lời nào và nàng, nàng có thể chịu đựng một sự im lặng đến vô tận. tôi muốn làm gì đó, muốn gào thét lên với tất cả những từ tan ra và kết cục thành một mớ bòng bong chỉ để dễ hiểu với mình Lola. Nhưng rồi tôi vẫn im lặng”.
            Sự im lặng của không gian, của tiếng lòng người- hai người thân cuả Tatiana có lúc khiến nàng phải hét lên vì không chịu đựng nổi. “Tatiana la hét muốn biết sự thật của Jacques. “Có phải là con bé ngốc nghếch ấy không?”
“Hoặc là anh hãy nói với em có phải là Lola không hoặc là em sẽ hét lên bây giờ”
Cái im lặng của ý thức có thể chăng là tiếng nói riêng của nó, cách biểu hiện của nó? Im lặng cũng là một thứ ngôn ngữ, ngôn ngữ trong ý thức. Nó vẫn tồn tại ở đó khi không có âm thanh, nó chảy trong tâm tư, nó là sự liên kết của hình ảnh ngẫu nhiên và cảm giác. Nó là tiếng nói của ý thức bất tận không cần một hình thức vật chất để tồn tại.
Giọng điệu trần thuật là thái độ, tình cảm, lập trường, đạo đức của nhà văn với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn.
Giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm. Nếu như trong đời sống, ta thường chỉ nghe giọng nói nhận ra con người thì trong văn học, giọng điệu giúp chúng ta nhận ra tác giả. Người đọc có thể nhận thấy tất cả các chiều sâu tư tưởng, thái độ, vị thế, phong cách, tài năng cũng như sở trường ngôn ngữ, cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ thông qua giọng điệu. Nền tảng của giọng điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Trong khi trần thuật, tác giả sử dụng nhiều giọng điệu, nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo, chứ không đơn điệu.
e.       Điểm nhìn trần thuật-ngôi kể
Những kỹ thuật thường gặp của tiểu thuyết hiện đại là sự dịch chuyển liên tục các điểm nhìn, điểm nhìn được phân tán về mọi phái, mọi góc độ. Vai trò của người trần thuật phần lớn chuyển trao cho các nhân vật và chúng tự nói lên tiếng nói của mình. tính chất hiện đại thể hiện ở chỗ ngôn ngữ trần thuật không còn là tiếng nói quyền uy, lý trí phán xét mà nó là thữ ngôn ngữ hỗn loạn, không có logic, đầy cá nhân, đầy ám ảnh, thứ ngôn ngữ của người loạn trí và người bị ám ảnh bởi người loạn trí. Với tác phẩm này, kỹ thuật dòng ý thức đã thể hiện một cách rõ rệt cách cảm nhận của Duras về ý thức của người có tâm bệnh thông qua điểm nhìn chủ yếu của nhân vật Jacques Hold.
Đối với người bình thường, nhiều trang tự sự trong câu chuyện này đôi khi là mớ ngôn từ hỗn độn vô ý nghĩa của một câu chuyện kể rất phức tạp, chằng chịt không ngừng với những hồi tưởng chập chờn, rộng trải với quá khứ, hiện tại. Một câu chuyện thiếu thốn ý nghĩa, thông điệp không rõ ràng và phát ngôn của nhân vật thì không đáng tin cậy, mặc dù nó được che đậy bởi những gương mặt bình thản bề ngoài, nhịp điệu sống êm ả, buồn tẻ. Nhưng khi những nhân vật ngồi lại với nhau, họ vật vã trong sự cố gắng che giấu chính mình. Họ liên tục nói dối nhau và dò xét nhau.
Trong tác phẩm này Jacques là nhân vật kể chuyện. Hình thức kể theo ngôi thứ nhất. Chủ thể xưng “tôi” trong tác phẩm. Khác với hình thức tự sự ngôi thứ ba, chủ thể kể chuyện trong trường hợp này được đặt vào trong chính các sự kiện, tình tiết với tâm thế người trong cuộc.
Ngôn ngữ trần thuật chủ yếu là của Jacques. Tuy đó là người trần thuật biết tuốt  và là nhân vật kể chuyện nhưng cái nhìn lại tương đối khách quan. Nhân vật này xưng tôi từ đầu nhưng chỉ đến giữa tác phẩm ta mới biết “tôi” chính là Jacques. Trước đó, “tôi” vẫn là người trần thuật biết tuốt và tuy chứng tỏ có liên quan tới câu chuyện nhưng dường như lại đứng ngoài câu chuyện. “Tôi” miêu tả chính mình dưới nhân xưng “anh ta”. “anh ta” được miêu tả như là một đối tượng thứ ba thông qua cái nhìn của Lola, điểm nhìn trần thuật vẫn là của người kể chuyện vô hình. Đến giữa tác phẩm, khi Lola có cuộc gặp mặt chính thức với Jacques, ta mới biết “tôi” chính là Jacques.
Trong câu chuyện, lúc ta đã biết nhân vật lể chuyện là Jacques thì lại cũng có lúc bất ngờ tác giả để nhân vật này đánh mất điểm nhìn, chuyển ngôi trần thuật từ “tôi” sang “anh ta” mà ta có quyền nghĩ rằng đó không pahir là tiếng nói của người trsaanf thuật vô hình. Dường như đó là ý đồ của tác giả như là một cách để nhân vật đặt điểm nhìn lên chính mình, soi vào chính mình, chiêm nghiệm về cuộc sống và con người một cách đa diện và có chiều sâu hơn.Không hiểu về mình, anh ta cũng như các nhân vật khác, không tiếp cận được với tâm hồn Lola Valerie.
Sự di chuyển điểm nhìn cũng có thể là một phương diện hình thức của tác phẩm: trong dòng suy tưởng hỗn loạn, cái tôi di chuyển cái nhìn của mình, nhìn mình như một đối tượng thứ ba.Sự cần thiết phgải có cái nhìn khách quan như vậy về chính cái tôi là
3. Kết luận
Câu chuyện của Duras như thế, thật sự là một thiên tẻ nhạt từ đầu tới cuôí như một bản đàn cổ điển, nhưng khi gấp trang sách, lại, nó ám ảnh day dứt không thôi về cái mỏng manh của mối quan hệ giữa con người, về sự cô đơn, về nỗi đau và về sự nhiễu loạn bản sắc. Ai có thể hiểu nguồn gốc sự cô đơn này. Ai có thể nhìn thấy họ không phải như cái cách mà họ thể hiện trên bề mặt? Làm thế nào mà ta có thể chạm được tâm hồn của nhau?   
Một câu chuyện về nỗi đau và tình yêu là điều muôn thuở Duras quan tâm. Tình yêu có thể kết thúc nỗi đau chăng khi vốn dĩ trước đó nó đã là khởi nguồn của nỗi đau? “Em nói thế là để anh hiểu rằng không thể tưởng tượng được ta có thể đi đến đâu trong cuộc đời thiếu vắng tình yêu”, người đàn bà mất trí Lola đã nói một điều rất chân thực như thế với người tình. Một kết thúc lửng lơ không nói cho ta biết câu trả lời của tác giả. Một kết thúc bắt đầu cho một sự đồng sáng tạo.
Vấn đề ở tiểu thuyết này cũng không hẳn là ở việc tác giả nó viết cái gì, mà viết như thế nào. Nó lạ lùng chưa từng có. Không điên cuồng, náo động và day dứt như Âm thanh và cuồng nộ, nó tinh tế sâu lắng, nhẹ nhàng cuốn ta vào mê cung ngôn từ trần thuật và đối thoại, những miên man ký ức, những không gian mờ ảo của hiện tại, sự dịch chuyển điểm nhìn, sự lộ diện bất ngờ của ngôi kể, sự kết thúc hờ hững…và đặc biệt ấn tượng sâu lắng về tác phẩm, đó chính là gương mặt của nó. Nó chính là hiện ảnh bề mặt của nhân vật Lola Valerie: dịu dàng nhưng vô tâm, ngơ ngác trước hiện thực và không thể hiểu được. Do vậy, thông điệp mà bạn nhận được từ tác phẩm này là do bạn tự tìm lấy.
Thủ Đức, 13/4/2010

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

ANNA KARENINA- VẤN ĐỀ TIỂU THUYẾT VÀ PHI TIỂU THUYẾT - BIỆN CHỨNG TÂM HỒN-


Ngô thị Thu Thủy 

           
I. L.N Tolstoy - “con sư tử của đại ngàn văn học Nga” và tiểu thuyết Anna Karenina 
1. Tác giả:
Bá tước Lev Nikolayevich Tolstoy  (9/9/1828-20/11/1910) là tiểu thuyết gia người Nga, nhà triết học, người theo chủ nghĩa hòa bình, nhà cải cách giáo dục, nhà tư tởng, đạo đức, được yêu mến khắpa mọi nơi như là một tiểu thuyết gia vĩ đại nhất của mọi thời đại, đặc biệt nổi tiếng với kiệt tác Chiến tranh và hòa bình và Anna Karenin, miêu tả sự phóng khoáng và hiện thực của cuộc sống Nga,có thể nói hai tác phẩm này là đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực Nga và thế giới.
Các tác phẩm của ông, dùng vật liệu là các kinh nghiệm cá nhân, đã gây ảnh hưởng sâu đậm trong nền văn chương của thế kỷ 20 và các lời giảng dạy của ông đã giúp công vào việc hình thành cách suy nghĩ của nhiều nhà lãnh đạo tư tưởng và chính trị sau này, đặc biệt là Mahatma Gandhi. 
Có thể nói sự phát triển của Chủ nghĩa hiện thực Nga khởi đầu từ Pushkin đến thời kì của L.N Tolstoy đã đạt đến đỉnh cao nhất của nó. Bằng những bộ tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và Hòa bình, Anna Karenina, Phục sinh… L.N.Tolstoy đã vinh danh mình như là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất mọi thời đại Cùng với Dostoyevski, ông được đánh giá là một trong những đại biểu lớn nhất và xuất sắc nhất, là "tập đại thành"  của văn học hiện thực Nga và thế giới thế kỉ XIX.
2.Tác phẩm:
Nếu như Chiến tranh và hòa bình gây ấn tượng với người đọc bởi sự đồ sộ về cả đề tài, thời gian sự kiện, đến hệ thống nhân vật thì Anna Karenina lại thu hút người đọc bằng những sự am tường tinh tế, sâu sắc của nhà văn về các vấn đề của gia đình, xã hội cũng như sự nhạy cảm trong khả năng nắm bắt tâm hồn con người của nhà văn. Có cách nhìn nhận riêng về khả năng và giới hạn của thể loại, không đánh giá cuốn tiểu thuyết đồ sộ nhất của mình là Tiểu thuyết nhưng Tolstoy lại cho rằng Anna Karenina xứng đáng với tên gọi là một “tiểu thuyết” thực thụ và ông xúc động thổ lộ “ Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong đời tôi đã bám chặt lấy tâm hồn tôi và lôi cuốn toàn thân tôi” (Dẫn theo Nguyễn Hải Hà- Lich sử văn học Nga TK XIX,NXB ĐHQGHN).
                        Anna karenina là thành quả của hơn 4 năm sáng tác (từ năm 1873-1877). Tác phẩm được nhà văn manh nha ý tưởng từ năm 1870 với dự định ban đầu viết về một người đàn bà thượng lưu hư hỏng nhưng “đáng thương chứ không đáng tội”,sau 12 lần sửa đổi nội dung và đổi tên tác phẩm ( “Một bà trẻ trung”-> “Hai đám cưới”-> “Anna Karenina”), vượt khỏi dự định ban đầu về một cuốn tiểu thuyết gia đình nhỏ hẹp, Tolstoy đã sáng tạo nên cuốn tiểu thuyết tâm lí-xã hội rộng lớn, phản ánh cả buổi giao thời của nước Nga trong năm năm 70 qua đó đề ra biết bao vấn đề xã hội lớn lao và cấp bách.
Anna Karenina ra đời đã đánh dấu một mốc mới quan trọng trên con đường phát triển tư tưởng và nghệ thuật sáng tác của Tolstoy, đặc biệt trong nghệ thuật xây dựng kết cấu tiểu thuyết và xây dựng tâm lí nhân vật bằng “phép biện chứng tâm hồn”.Tác phẩm đã đưa chủ nghĩa hiện thực lên đến đỉnh cao ,từ hiện thực rộng lớn về lịch sử xã hội  đến hiện thực của “lịch sử tâm hồn con người”.
ÊAnna Karenina là đỉnh cao của nghệ thuật tiểu thuyết Tolstoy nói riêng và chủ nghĩa hiện thực Nga nói chung.
II. Vấn đề tiểu thuyết và phi tiểu thuyết.
        1.Anna Karenina, “cuốn tiểu thuyết đích thực” của Tolstoy
Chú trọng đến vấn đề cá nhân, đời thường (chủ đề gia đình, tình yêu, bệnh tật, cái chết)
Trong khi khẳng định rằng Chiến tranh và Hòa Bình là một tác phẩm “sử thi văn xuôi” và xem Anna Karenina là một tiểu thuyết, Tolstoy chắc chắn rằng đã đánh giá tác phẩm ở đề tài, diện phản ánh, quy mô số lượng nhân vật cũng như thời gian sự kiện của tác phẩm . .  So với Chiến tranh và hòa bình, Anna Karenina rõ ràng khiêm tốn hơn về quy mô. Chiến tranh Hòa Bình có tham vọng tái hiện lịch sử xã hội và con người nước Nga trong khoảng 20 năm đầu của thế kỉ với những sự kiện, biến động quan trọng về lịch sử trong đó có cuộc chiến tranh vệ quốc 1812 chống lại sự xâm lược của quân đội Napoleon  trong khi Anna Karenina chỉ gói gọn cuộc sống của đời sống xã hội Nga mà chủ yếu là tầng lớp thương lưu trong vòng 5 năm tương đối bình lặng của thập niên 70. Xét ở dung lượng và độ dài, về sự tập trung chủ đề chính, cũng như số lượng nhân vật thì tác phẩm này rõ ràng gần với “tiểu thuyết”- với ý nghĩa đúng như với tính chất của thể loại.  Nhưng điểm quan trọng nhất để xem Anna Karenina là “tiểu thuyết” chính là ở chỗ Tác phẩm thiên về cảm hứng đời tư, lịch sử cá nhân hơn là cảm hứng sử thi lịch sử xã hội rộng lớn. Nói như vậy không có nghĩa là Anna karenina không kém phần quan trọng, bởi mỗi tác phẩm thể hiện một quan điểm chủ đạo của nhà văn. “Với "Chiến tranh và hòa bình", điều nhà văn quan tâm hơn cả là số phận và hạnh phúc của dân tộc, còn với "Anna Karenina" là số phận và hạnh phúc của cá nhân” (…)."Anna Karenina" là một "tiểu thuyết lấy từ cuộc sống đương đại", trong đó "lịch sử tâm hồn con người" được mở ra thông qua tình yêu và hôn nhân..”( Trần thị Phương Phương-Chủ nghĩa hiện thực Nga TK XIX) Đối tượng chủ yếu của Anna Karenina không phải là số phận dân tôc, giai cấp mà là những vấn đề cá nhân, đời thường, những vấn đề rõ ràng nhỏ hẹp hơn nhiều (chủ đề gia đình, )tình yêu, bệnh tật, cái chết).Dù có những chủ đề phụ nhưng tác phẩm vẫn giải quyết tập trung và xuất sắc vấn đề mà nhà văn đặt ra từ đầu đó là viết một cuốn tiểu thuyết về đề tài gia đình “ý tưởng gia đình”. Vấn đề mà nhà văn đặt ra một cách trực diện ở đây chính là quan niệm về hôn nhân, tình yêu- một trong những vấn đề mà Tolstoy rất quan tâm.Khái niệm tiểu thuyết ở đây cũng còn được hiểu là câu chuyện về tình yêu “ Từ tiểu thuyết trong tiếng Nga (roman) có nhiều nghĩa. Nó còn có thể chỉ chuyện tình yêu đôi lứa. Nhân vật Kitty trong tác phẩm đã dùng từ tiểu thuyết với nghĩa này”…( Trần thị Phương Phương-Chủ nghĩa hiện thực Nga TK XIX )Thông qua 2 mối quan hệ hôn nhân, tình yêu của Anna và Levin  nhà văn muốn bày tỏ quan niệm của mình về vai trò của gia đình, về sự  suy đồi của gia đình trong đời sống xã hội Nga lúc bấy giờ. Xây dựng hai câu chuyện tình Anna-Vrosky; Levin-Kitty và ba cuộc hôn nhân: Anna – Karenin; Stephan – Dolly; Levin-Kitty ,ý định của nhà văn ngay từ đầu đã khá rõ ràng. Nhà văn muốn đề cao gia đình, tình yêu qua mối tình của Levin-Kitty và phê phán mối tình của Anna nhưng thực tế cuộc sống đã buộc nhà văn phải thừa nhận những điều mâu thuẫn với quan điểm của mình: “ Nhà văn tin rằng "nòi giống loài người phát triển thông qua gia đình", song đồng thời cũng không thể không nhận thấy sự tan rã của gia đình khi mất đi sự an bình hòa hợp”.( Trần thị Phương Phương-Chủ nghĩa hiện thực Nga TK XIX).
   Rõ ràng trong mọi xã hội gia đình luôn luôn đóng vai trò nền tảng, bởi gia đình là tế bào của xã hội.Sự biến động trong đời sống đạo đức,nếp sống của gia đình phản ánh những biến động trong đời sống tinh thần của xã hội đó. Xã hội Nga được phản ánh trong tác phẩm là một xã hội đang biến chuyển dữ dội.Giai cấp quý tộc thượng lưu đang trên đà suy tàn, mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân ngày một sâu sắc, chủ nghĩa tư bản đang bắt đầu phát triển. Trong đời sống tinh thần những cái cũ đã bắt đầu tỏ ra lỗi thời,suy đồi và những mầm mống của cái mới, những mầm mống phản kháng đã bắt đầu nảy sinh. Tất cả những biến chuyển mạnh mẽ của xã hội đã dội vào tổ ấm của mỗi cá nhân trong cộng đồng.Điều đó thể hiện đầu tiên chính ở sự thay đổi quan niệm về vai trò của người phụ nữ trong gia đình. “Trong quan niệm đạo đức của Tolstoy, vấn đề vai trò của người phụ nữ phải được giải quyết một cách đơn giản, theo những giáo huấn truyền thống: vị trí của người phụ nữ là trong gia đình để thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ”
(
Trần thị Phương Phương-Chủ nghĩa hiện thực Nga TK XIX).Người phụ nữ lí tưởng của xã hội đó và của Tostoy chính là những người phụ nữ  mà nhà văn từng nói đến qua nhân vật Natasha “ "một con mái khoẻ mạnh và mắn con"(..) không quan tâm đến vấn đề nữ quyền và tự đặt mình vào vị trí kẻ nô lệ của chồng con”.Người phụ nữ trong xã hội phải như thế còn là phụ nữ thượng lưu lại càng không nên nghĩ đến tình yêu, những mối quan hệ hôn nhân của họ dựa trên sự mối lái trên cơ sở “môn đăng hộ đối”.Anna, Dolly, Kitty và tất cả các phụ nữ khác… đều như vậy. Cuộc sống hôn nhân nhàm chán vắt kiệt sinh lực và tuổi thanh xuân của họ.Dolly là một ví dụ điển hình, mới hơn 20 tuổi nhưng tất bật với việc làm bà nội trợ, quản lí gia đình và nuôi dạy con cái đã làm cho nhan sắc nàng sớm phai tàn khiến cho ông chồng chán chường ngoại tình với cô gia sư, Anna trước khi đến Moskva phải sống bên người chồng khô khan,giả dối,hiếu danh và không biết yêu, mặc dù cuộc sống hôn nhân chưa kịp tàn phá vẻ đẹp của nàng nhưng đời sống tinh thần của nàng đã rất cằn cỗi, chỉ biết hướng nguồn yêu thương duy nhất vào đứa con trai. Xã hội thượng lưu giả dối bù đắp cho họ bằng những đêm vũ hội phông màn hào nhoáng phủ lên hợp pháp hóa che giấu cho việc ngoại tình … Ngược đời thay xã hội đó chấp nhận và dung túng, khuyến khích những cuộc ngoại tình lén lút bất chính nhưng lại căm ghét tình yêu và khao khát được yêu thật sự của người phụ nữ. Bi kịch của Anna chính là ở chỗ đó. Anna không phải là một người đàn bà lí tưởng, không phải là nhân vật tích cực của thời đại mình.Tất cả mọi mối quan tâm của nàng chỉ là  tình yêu.Nàng chỉ muốn được sống và được yêu nhưng nàng không phải là người đang bà trụy lạc. Người phụ nữ xinh đẹp, tinh tế, trung thực căm ghét giả dối như nàng không thể chấp nhận được thực tế và nàng đã phản kháng.Cuộc sống hôn nhân mà nàng thừa nhận là “một sai lầm ghê gớm đã bóp nghẹt cuộc sống của nàng”. Bởi vậy Anna luôn khao khát yêu đương, ước mong có một mối tình chân chính. Người phụ nữ khao khát tình yêu đó đã dám đón nhận tình yêu của Vronsky trước cái nhìn cay nghiệt của xã hội. “Câu chuyện Vronsky - Anna là cái mới mẻ chưa từng có trong các sáng tác trước của nhà văn. Anna và những khát vọng có tính nổi loạn mà nàng là hiện thân là một sự bùng nổ trong thế giới vốn bình lặng của Tolstoy. Chuyện tình Anna với Vronsky đi ngược lại quan niệm đạo đức của nhà văn, nhưng đồng thời lại là một sự thật mà ông không thể cưỡng lại được.” (Trần thị Phương Phương-Chủ nghĩa hiện thực Nga TK XIX)
 Số phận của Anna có thể đã khác nếu nàng cam tâm thuận theo lối sống giả dối đó của xã hội thượng lưu như chính lời khuyên của chồng nàng. Cái chính là phải giữ gìn vẻ bề ngoài, chỉ cần nàng biết dè dặt kín đáo, và biết cách làm cho cuộc tình ấy phù hợp với cung cách của giới thượng lưu. Nhưng Anna ,với bản tính và sức sống mãnh liệt của mình đã không thể làm theo sự giả dối ấy, nàng yêu và muốn sống chân thật, công khai với tình yêu của mình.Và Xã hội thượng lưu tất yếu không thể bao dung với đứa con nổi loạn . Chúng gạt nàng ra khỏi xã hội, cô lập mối tình của nàng, khinh khi nói xấu nàng và cắt đứt mối quan hệ của nàng với đứa con trai mà nàng yêu hơn bản thân,“xã hội thượng lưu đã nhằm đúng chỗ hiểm để giày vò nàng, làm cho tâm hồn nàng tan nát” gián tiếp đẩy Anna vào đường cùng. Chấp nhận rời bỏ chỗ đứng trong xã hội thượng lưu và cả đứa con trai mà nàng yêu quý vì tình yêu nhưng rồi cũng chính vì tình yêu mà nàng tìm đến với cái chết. Đoạn tuyệt tất cả, Anna chỉ còn biết bám vào hy vọng cuối cùng là Vronsky nhưng chàng lại không dứt bỏ được xã hội với những định kiến.Tình yêu của nàng dần trở thành vị kỉ “khi người đang yêu chỉ dồn mọi tâm lực trí lực vào bản thân mình, không còn thấy được gì khác to lớn hơn, đáng giá hơn ngoài tình yêu. Trong nỗi đau khổ ghen tuông vì Vronsky, Anna trở nên xa lạ với mọi sự sống xung quanh nàng”. Hoang mang, ghen tuông, đau khổ Anna chọn cho mình cái chết. Cái chết của nàng là bi kịch thương tâm, nhưng lối hành xử quyết liệt vì tình yêu mà đương đầu với xã hội của nàng là dũng cảm và không hẳn là sai trái.Nó là sự phản kháng đối với cuộc sống gia đình thượng lưu hào nhoáng, giả dối, đòi tình yêu hạnh phúc đích thực một cách chính đáng của người phụ nữ chính vì vậy mà mặc dù mục đích ban đầu của nhà văn là phê phán Anna, phê phán lối sống như nàng nhưng cuối cùng những trang viết của nhà văn lại tỏ lòng cảm thông với số phận và hành động của nàng. Anna là nạn nhân của chính lòng yêu sống của nàng nhưng còn là nạn nhân của thói đạo đức giả của xã hội . Nàng “đáng thương chứ không đáng tội”.Hình tượng Anna và tính cách nổi loạn của nàng là mới mẻ so đối với tiểu thuyết Nga nói chung và đối với Tolstoy nói riêng nhưng nàng vẫn là người phụ nữ rất Nga, là đứa con đẻ tất yếu của chính xã hội đó.
Là mô hình hoàn chỉnh về cuộc hôn nhân lí tưởng của Tolstoy.Chuyện tình Levin - Kitty chiếm phần lớn tiểu thuyết. Khác với Vronsky quan niệm hôn nhân một cách hời hợt, Karenin xem đó là một công việc thì trái lại Levin xem đó là công việc đại sự, nghiêm chỉnh.Chàng đã sống những phút sôi nổi với mối tình duy nhất của mình. Nhưng khác với Anna chàng không chỉ quan tâm đến hạnh phúc cá nhân mà còn suy nghĩ nhiều về xã hội và muốn cải thiện tình trạng xã hội..Chàng mong muốn mang đến cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người, muốn sống một cuộc sống tích cực,có ý nghĩa.Tình yêu của chàng vì thế vượt ra ngoài sự vị kỷ và chàng đã có hạnh phúc. “ Anna và Levin đi trên hai con đường song hành, song dẫn đến hai kết cục khác nhau, đó cũng là hai sự kiện quan trọng và đầy tính biểu trưng: cái chết của Anna kết thúc cuộc đời bi kịch của nàng và sự ra đời của con trai Levin khởi đầu hạnh phúc của chàng. Cũng như Anna, Levin là người đi tìm hạnh phúc trong tình yêu, nhưng tình yêu của Anna hoàn toàn trần thế, còn Levin ngoài tình yêu trần thế còn khao khát tình yêu lớn hơn. Bởi vậy cái chết của Anna đã khép lại bi kịch của nàng, song Levin, dẫu đã có Kitty và con trai, thì vẫn mãi băn khoăn kiếm tìm giải pháp để làm cho cuộc sống của riêng mình và cuộc sống xã hội nói chung trở nên tốt đẹp hơn. (Trần thị Phương Phương-Chủ nghĩa hiện thực Nga TK XIX)
   Như vậy bằng những mô tả về các mối quan hệ cá nhân, những chuyên đời thường, Anna karenina đã dựng nên một bức tranh chân thực về đời sống gia đình, hôn nhân, tình yêu của xã hội Nga. Nó đã cho thấy một thời đại mà “Tất cả đã bị đảo lộn và chỉ mới đang được sắp xếp”,qua đó thể hiện tư tưởng của nhà văn và khái quát được bức tranh đời sống tinh thần của xã hội Nga những năm 70.
Ngoài chủ đề chính về hôn nhân, tình yêu trong tác phẩm này Tolstoy còn mở rộng vào những chủ đề phụ (bệnh tật, cái chết ..)Tuy là những chủ đề phụ nhưng nó không làm phân tán  mà trái lại còn góp phần thể hiện chủ đề chính.Chủ đề về cái chết vốn là một chủ đề thường gặp trong sáng tác của Tolstoy. “chỉ có hai chủ đề Tolstoy thực sự quan tâm và cho rằng đáng viết — đó là cuộc sống và cái chết …( Vladimir Nabokov,)  .Quan hệ giữa cuộc sống và cái chết đã được ông phân tích nhiều lần, lặp đi lặp lại, với sự phức tạp ngày càng tăng trong bản thảo cuối cùng của Kholstomer, trong Cái chết của Ivan Ilyich, trong Một người cần bao nhiêu ruộng đất? Tolstoy là nhà văn hay viết về cái chết. Ông không chỉ viết về nó từ con mắt của người còn sống, mà còn cả từ con mắt của người chết. Có thể nói không gì khó khăn và mạo hiểm hơn đối với nhà văn khi phải đặt mình vào vị trí của người đang sắp đi vào cõi chết và mô tả những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời người đó. Tolstoy đã làm điều đó trong "Chiến tranh và hòa bình", trong "Anna Karenina", trong "Cái chết của Ivan Ilich (. Trong Anna Karenina cái chết luôn có mặt, nó đe doạ, ám ảnh rồi kết liễu cuộc đời một số người..  Vronsky từng thấy hổ thẹn trước sự tha thứ của chồng Annavà tự sát hụt. Với nhân vật Levin, trước những bế tắc trong cuộc sống chàng đã từng có ý định tự sát và khi chứng kiến cái chết đang đến gần với người anh mình. Chàng đã suy nghi về sự sống, cái chết: “ Cái chết, sự kết liễu không tránh khỏi của mọi sinh vật, lần đầu tiên hiện ra trước mắt chàng với một sức mạnh không cưỡng nổi. Và cái chết đó ở kia, trong người ông anh thân yêu đang rên rỉ trong giấc ngủ và quen miệng kêu gọi lung tung, lúc kêu trời, lúc gọi ma, chàng thấy cái chết đó như gần hơn nhiều so với trước. Nó cũng ở ngay trong người chàng, chàng cảm thấy thế. Nếu không phải hôm nay thì ngày mai, nếu không phải ngày mai thì sẽ là ba mươi năm nữa; trước sau cũng thế thôi! Và cái chết tất yếu đó là thế nào, không những chàng không biết, không những chàng không bao giờ nghĩ tới, mà chàng không thể và không dám nghĩ tới."Mình làm việc, mình muốn làm cái gì đó và mình quên rằng tất cả đều kết thúc bằng cái chết.(..)Cái chết sẽ đến, mọi cái đều kết liễu, chẳng vạ chi mất công làm bất cứ việc gì và không ai thay đổi được gì hết. Thật khủng khiếp, nhưng đúng như vậy.  Ở đâu, chàng cũng chỉ nhìn thấy cái chết hoặc con đường dẫn tới cái chết. Vì thế chàng càng quan tâm đến sự nghiệp của mình hơn. Phải sống cho thật đầy đủ trước khi cái chết ập đến.”(Anna Karenina, NXB VH) Cái chết đầy bi kịch của Anna trên đường tàu gây nhiều ám ảnh với người đọc "nàng muốn đứng dậy và nhảy lùi về sau, nhưng một khối đồ sộ và rắn chắc đã đập vào đầu và xô nàng nằm ngửa ra".  Đối mặt với cái chết “Các nhân vật đều chống cự với cái chết, mệt mỏi, đau đớn, hay sợ hãi, song khi cái chết đã thực sự đến, thì dường như luôn là sự giải thoát, sự thức tỉnh - thức tỉnh ở một thế giới khác”. Cái chết của Anna chỉ là khoảnh khắc, nhưng trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, nàng cũng đã thấy "luồng ánh sáng đã soi cho nàng thấy rõ cuốn sách cuộc đời với bao nhiêu lo âu, phản phúc và đau khổ, lúc này càng bừng lên chói lọi hơn, rọi chiếu vào mọi vật bấy lâu nay vẫn chìm trong bóng tối...".Cái chết gợi lên sự u ám, bi quan, ám ảnh cho bầu không khí của tác phẩm nhưng cái chết cũng đồng thời là sự giải thoát, thức tỉnh .“Không một ai đang sống có thể kiểm chứng được những gì Tolstoy mô tả có đúng sự thực không, nhưng những trang viết về cái chết của Anna, cũng như về các nhân vật khác luôn hấp dẫn và gây xúc động, khiến người đọc cảm giác đó chính là sự thực. Và cái ánh sáng của sự giải thoát, sự thức tỉnh ở những giây phút cuối cùng làm người ta tin rằng chết chưa phải là hết.” (Trần thị Phương Phương-Chủ nghĩa hiện thực Nga TK XIX )
Xung đột kịch tính (những cốt truyện làm nổi bật những khủng hoảng trong đời sống, đặc biệt trong đời sống đạo đức của nhân vật)
Anna Karenina được Tolstoy xem là “tiểu thuyết” thực thụ đầu tiên  còn bởi đây là tác phẩm mà nhà văn rất chú trọng trong việc xây dựng kết cấu. Tác phẩm có cấu trúc phức tạp, thể hiện sự sắp xếp công phu của nhà văn . Khi vừa mới ra đời nhiều người  cho rằng cuốn tiểu thuyết này là sự kết hợp của hai tiểu thuyết: Tiểu thuyết về Anna và Tiểu thuyết về Levin được đặt bên nhau một cách khéo léo tài tình mà không có kết cấu chung. Còn các nhà nghiên cứu thì cho rằng tiểu thuyết Anna Karenina không có kết cấu song song, mà tiểu thuyết này có kết cấu đan chéo, quyện chặt vào nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Ngược lại, Tolstoy khẳng định: "Tôi tự hào bởi kiến trúc của nó là những khung cửa tò vò được nối liền với nhau đến mức không thể nhận ra ổ khóa ở đâu". Và theo ông thì cấu trúc của tác phẩm được tạo nên không phải dựa vào cốt truyện và cũng không phải dựa vào mối quan hệ quen biết giữa các nhân vật mà dựa vào mối quan hệ bên trong.
Nhìn qua thì rõ ràng hai câu chuyện: về Anna một phụ nữ ngoại tình bị kẹt trong những quy định và những trò lừa dối của xã hội và Levin một điền chủ mê triết học , người làm việc cùng với những người nông dân trên cánh đồng và tìm cách cải thiện cuộc đời họ có vẻ không liên quan đến nhau, tưởng như có thể tách ra làm hai mà không mấy ảnh hưởng. Đây có thể là hệ quả của những lần phát triển biến đổi từ dự định ban đầu của nhà văn. Từ tuyến truyện của Anna nhà văn dần dần bổ sung thêm tuyến truyện của Levin, và sau đó là câu chuyên về gia đình Stephan-Dolly như một sự kết nối.Tuy nhiên nó không phải là một sự thêm bớt lắp ghép đơn giản, mang tính cơ học mà chất keo dính kết chúng lại chính là tư tưởng của nhà văn, chủ đề của tác phẩm: ý tưởng gia đình.Tất cả đã làm cho chúng khi được hoàn chỉnh trở thành một chỉnh thể gắn bó khăng khít.. Kết cấu tác phẩm được thể hiện ngay ở nhan đề tác phẩm. Ban đầu nhà văn đặt tên cho tác phẩm là "Hai đám cưới" (“Dva braka” – hay Hai cuộc hôn nhân”) đã gợi ra việc tác phẩm được xây dựng trên sự phát triển song song của hai tuyến quan hệ tình yêu và hôn nhân: một là “Levin – Kitty” và hai là “Vronsky – Karenin – Anna”. kết cấu này mang tính ẩn dụ một cách tự nhiên, thể hiện ở sự song hành nhưng đối lập của hai chuyện tình, một bất hạnh và một hạnh phúc.Ngày Anna đến giàn hòa cho gia đình anh chị là ngày nàng bước vào bi kịch của mình và cùng lúc ấy Levin đến cầu hôn ,đau khổ bị từ hôn nhưng để rồi kết thúc trong hạnh phúc.  Hai con đường của hai nhân vật đều vang tiếng gọi của tình yêu, nhưng một bên là tội lỗi và đau khổ, một bên là đạo đức và hạnh phúc. Nhưng sự đối lập này chỉ là trên bề mặt thực ra chúng vẫn gắn kết chặt chẽ trong việc hướng về việc thể hiện chủ đề."Tất cả cho bản thân mình" - bi kịch của Anna nằm ở đó, còn "tất cả cho mọi người" là nền tảng câu chuyện của Levin. Đối với Tolstoy, vấn đề "cho bản thân" và "cho mọi người" phải giải quyết đồng thời, hai vấn đề đó không những chỉ tồn tại song hành trong con người, mà còn luôn tác động qua lại, thâm nhập lẫn nhau. Bởi vậy, câu chuyện của Anna và câu chuyện của Levin, tuy phát triển độc lập, nhưng vẫn có mối liên kết chặt chẽ với nhau. Và xét đến cùng thì cả Anna và Levin cũng còn giống nhau ở điểm họ cũng là những con người thẳng thắn, trung thực chống lại những quy định sinh hoạt giả dối của xã hội.Tolstoy rất tự hào về kết cấu tác phẩm, nơi sự kết nối được làm khéo đến độ không thể nhận ra. Mối quan hệ bên trong mà ông nói đến đó là "quy luật của cái thiện" và "sức mạnh của cái ác". “Những khái niệm trừu tượng đó được thể hiện trong vô số những tình cảnh, những trạng thái, những tính cách, tạo nên một sự thống nhất, hài hòa cho tiểu thuyết. Và mặc dù bi kịch của Anna là bi kịch khép kín, song cái kết của tiểu thuyết "Anna Karenina" vẫn là một cái kết mở: Anna chết đi, mối tình của nàng với Vronsky đã kết thúc, nhưng sự sống vẫn còn đó và tình yêu vẫn còn đó. Chương cuối của tiểu thuyết không phải là chương của Anna, mà là của Levin với cái kết đầy lạc quan:  Levin khám phá ra tình yêu của mình đối với đứa con trai nhỏ mới ra đời; tình yêu đó khiến chàng thức tỉnh, hiểu rằng cuộc sống của bản thân chàng và của tất cả xung quanh chàng vẫn sẽ tiếp diễn với mọi vui sướng, khổ đau như trước, nhưng nó đối với chàng "từ nay không còn trống rỗng, vô nghĩa nữa”, bởi vì chàng "đã thấy được một ý nghĩa hiển nhiên và có thể đưa vào làm cho cuộc sống trọn vẹn: ý nghĩa của điều thiện".( Trần thị Phương Phương, Chủ nghĩa hiện thưc Nga TKXIX)
Kết cấu độc đáo của tác phẩm đã góp phần tạo nên thành công trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm và nó cũng tạo nên cốt truyện với những xung đột kịch tính góp phần thể hiện những sự khủng hoảng trong đời sống đặc biệt là trong đời sống đạo đức, tinh thần của các nhân vật. Đó là xung đột được tạo nên bởi các mâu thuẫn trong tính cách, lối sống, quan điểm . Xung đột rõ rệt nhất là giữa tính cách trung thực ghét giả dối của Anna với lối sống đạo đức giả của xã hội thượng lưu mà mâu thuẫn đó được thể hiện chính ngay trong gia đình nàng.Nàng là người phụ nữ tinh tế nhạy cảm, khao khát yêu thương ghét giả dối nhưng lại phải sống cạnh người chồng khô khan, ưa sĩ diện, giả dối. Karenin sống bên cạnh vợ mà không bao giờ hiểu vợ, ông ta luôn nói đến từ yêu nhưng bản thân ông lại không hề biết yêu là gì. Ngay cả khi biết Anna ngoại tình, việc mà Karenin muốn làm chỉ là muốn vợ giữ cho kín đáo để khỏi ảnh hưởng đến danh tiếng của mình. Và không chỉ Karenin mà cả xã hội đó đều đồng lòng như thế. Xã hội đó có thể dung túng cho ngoại tình nhưng không dành chỗ cho sự trung thực, yêu đương chân chính và đáng sợ thay chân lý xét về bên ngoài lại thuộc vào những kẻ đạo đức giả này.  Những mệnh phụ phu nhân như Betxi, Lidia… có cả tá nhân tình nhưng vẫn có thể lên giọng đạo đức để lên án Anna, và nàng vẫn phải chịu sự khinh miệt của xã hội. Sự xung đột giữa mối tình của Anna với xã hội chính là xung đột giữa tình yêu chân chính với những tiêu chuẩn sinh hoạt đạo đức giả của xã hội..Mối tình của Anna với Vronsky dần đi vào bế tắc chính bởi xã hội đó không cho nó cơ hội nào để tồn tại. Xã hội thượng lưu đã khoét sâu hơn mối bất hòa giữa hai người và đẩy Anna vào tình trạng tuyệt vọng. Chúng hùa với nhau đẩy nàng vào chỗ chết, buộc người mẹ phải chọn giữa tình yêu và tình mẫu tử và chúng đã thắng bởi Anna không thể chọn lựa mà không bị đau đớn giày vò.
Xung đột thứ hai có thể kể đến chính là trong tư tưởng của Levin với thực tiễn hiện thực của xã hội Nga. Levin luôn suy nghĩ tìm đường giữa xã hội đang đầy rẫy mâu thuẫn, khủng hoảng trầm trọng, không ngừng tác động vào cuộc sống riêng tư. Là người thẳng thắn, rất nhạy cảm và phản ứng cũng rất nhanh với mọi thay đổi trong đời sống xung quanh, chàng luôn bất mãn với hiện thực, luôn lo lắng tìm hiểu chân lý và hạnh phúc ở đâu? Tất cả chặng đường phát triển về tinh thần của nhân vật là cuộc đấu tranh nội tâm gay go, phức tạp. Tâm tư chàng luôn bị giày vò, hết nghi ngờ, hoang mang rồi lại hối hận, tự trách mình. Chàng khao khát và cố gắng giành lấy cuộc sống sung sướng hơn, tốt đẹp hơn, bằng lao động và đấu tranh, bằng tình thương yêu và sự suy nghĩ. Chàng thực tâm muốn rời bỏ cuộc sống ích kỷ, tự tư tự lợi và tìm con đường đi vào gần gũi với nhân dân. .Đứng trước hiện thực của đất nước, chàng mong muốn cải tổ nó nhưng những chủ trương của chàng lại nửa vời.Một mặt chàng thấy được sự suy tàn, thối nát của giai cấp thống trị , thấy được sự tàn ác của chế độ nông nô, muốn đem lại cuộc sống hạnh phúc cho người dân nhưng mặt khác chàng vẫn muốn bảo vệ quyền lợi của Địa chủ.Không muốn từ bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất nhưng lại muốn xóa bỏ bất công xã hội, Levin không thể thoát ra được khỏ sự mâu thuẫn đó, chàng bế tắc, bi quan thậm chí suýt tự tử. Xung đột trong tư tưởng của Levin cũng phán ánh xung đột trong tư tưởng của một bộ phận quý tộc, địa chủ tiến bộ ở nước Nga lúc bấy giờ
Những xung đột truyện này được cụ thể hóa bằng hành động của các nhân vật, có cái được giải quyết triệt để(mâu thuẫn của Anna), có cái vẫn tiếp tục (mâu thuẫn của Levin) dù nhà văn tìm cho nó một giải pháp bế tắc. Nhưng tất cả vẫn tạo nên sự vận động của truyện và góp phần bộc lộ những giằng xé trong nội tâm các nhân vật.
2.Anna Karenina và những yếu tố Phi tiểu thuyết:
Bên cạnh những đặc điểm trên, cũng như hầu hết các tác phẩm của Tolstoy, Anna Karenina còn mang nhiều yếu tố phi tiểu thuyết
Tính chất sử thi:
Mặc dù ngay từ  nhan đề ,chủ đề  tác phẩm đã hướng vào vấn đề của đời sống cá nhân, đời thường  nhưng với tư cách là một nhà tư tưởng, tác phẩm của Tolstol vẫn có một diện phản ánh rộng lớn vượt khỏi tầm của một tiểu thuyết gia đình để trở thành một tiểu thuyết tâm lí xã hội .Hầu hết những vấn đề quan trọng của nước Nga vẫn được nhà văn khéo léo thể hiện trong tác phẩm qua đó bộc lộ tư tưởng quan điểm của mình. Đây cũng là điều đễ hiểu bởi “số phận và hạnh phúc cá nhân không thể tách khỏi số phận và hạnh phúc của dân tộc, câu chuyện về gia đình còn là câu chuyện về các vấn đề xã hội..” Trung tâm của cuốn tiểu thuyết là hai vấn đề lớn của xã hội lúc bấy giờ: Vấn đề người phụ nữ, gia đình, tình yêu, hôn nhân và vấn đề mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân.Qua tác phẩm, nước Nga sau những năm cải cách hiện lên  với đầy đủ những quan hệ cơ bản và phức tạp của nó.Tồn tại trong đó đầy đủ những hạng người đại diện cho các lực lượng xã hội:Bọn quý tộc quan lại trong bộ máy chính quyền đang tư sản hóa; Bọn quý tôc thất thế ăn tiêu xa hoa, nợ như chúa chổm ,Bọn quý tộc tự do chủ nghĩa đang học mót tư sản Tây Âu, Bọn quý tộc bảo thủ nuối tiêc nước Nga trước cải cách, những người quý tộc tiến bộ biết suy nghĩ trước sự suy tàn của giai cấp và thế đang lên của tư sản cùng các vấn đề xã hội…Tolstoy đã lấy ngay rất nhiều chi tiết trong sinh hoạt hính trị, xã hội tôn giáo, khoa học nghệ thuật đương thời để dựng lại chân thật toàn bộ bầu không khí nước Nga những năm 70.Tất cả đã làm cho tiểu thuyết của Tolstoy vượt qua giới hạn của vấn đề cá nhân để hướng ra những vấn đề có tầm khái quát hơn của dân tộc, của xã hội, đó là số phận của Nước Nga sẽ ra sao? Và phải giải quyết những vấn đề đó như thế nào?Qua đó nhà văn muốn thử nêu lên cách giải quyết của mình
Tính chất tự thú:
Có thể hiểu tính chất tự thú ở đây như là việc nhà văn đã sử dụng khá nhiều yếu tố tự thuật của chính bản thân vào trong tác phẩm hư cấu.Điều này có thể thấy qua hầu hết các tác phẩm của Tolstoy. Ta thây hình ảnh của ông  qua nhân vật Pierre trong Chiến Tranh và Hòa bình hay Nekhlyudov trong Phục sinh và lần này là Levin.. “Tolstoy là một trong những nhà văn mà cuộc đời thực của chính ông và những người xung quanh ông được đưa vào nhiều nhất trong tác phẩm, trở thành nguyên mẫu cho nhiều nhân vật, nhiều tình tiết của các tác phẩm” và “Một trong những nguyên mẫu của Tolstoy là chính Tolstoy” (Trần thị Phương Phương-Chủ nghĩa hiện thực Nga TK XIX). Điều này cũng dễ lí giải với các nhà văn nhất là những nhà văn đồng thời là những nhà tư tưởng lớn tha thiết với cuộc sống như Tolstoy. Bóng dáng tự thuật của nhà văn có thể xuất hiện đây đó, chỗ này chỗ khác trong các nhân vật, các tác phẩm nó có thể trùng hợp nhiều điểm tuy nhiên không thể nào đồng nhất nhân vật với nhà văn.
Với Anna karenina, nhân vật Levin có thể xem là nhân vật tự thuật có nhiều điểm gần với nhà văn nhất từ tên gọi cho đến tính cách, lối sống, quan điểm, thậm chí cả những đề xuất và sự bế tăc trong việc đưa ra cách giải quyết những vấn đề xã hội. Tên goi Lev (viết tắt của tên Tolstoy) có thể là gợi ý cho Levin. Nhiều quan điểm triết lý của Tolstoy được thể hiện thông qua nhân vật Levin như những quan điểm về đạo đức về hôn nhân, về giáo dục, nhiều chi tiết trong tình yêu và cuộc hôn nhân của chính bản thân nhà văn với vợ- Sofya Behrs được đưa vào chuyện tình Levin - Kitty.  có thể thấy bản thân Tolstoy và cuộc sống của ông ở Yasnaya Polyana rất gần gũi với hình tượng Levin – Ông gắn bó với công việc điền trang và chăm lo đến việc cải thiện đời sống nông nô,sự căm ghét thói đạo đức giả của giới quý tộc thượng lưu và giới quan chức triều đình, tình yêu đối với cuộc sống của người lao động, niềm khát khao tìm ra chân lý, vươn tới cuộc sống tinh thần thánh thiện. Những phát biểu cải lương của Levin ta như thấy trong đó cả ước mơ, tin tưởng của Tolstoy : "Chỉ cần kiên trì theo đuổi mục đích và mình sẽ thắng, Levin nghĩ.ít nhất, mình cũng làm việc cho một cái gì. Đó không phải vì sự an lạc của riêng mình mà vì hạnh phúc chung. Tất cả nền nông nghiệp và nhất là hoàn cảnh sống của dân chúng phải được thay đổi về căn bản. Thay vào cảnh lầm than, khắp nơi sẽ giàu có và sung túc. Thay vào chống đối, là sự hòa hợp và thống nhất quyền lợi. Tóm lại, một cuộc cách mạng không đổ máu, nhưng là một trong những cuộc cách mạng vĩ đại nhất, phát sinh từ cái xó bé nhỏ của quận ta để lan khắp tỉnh, khắp nước Nga, toàn thế giới. Bởi vì một tư tưởng đúng đắn không thể không đơm hoa kết quả”.Trong phần cuối của tác phẩm, Levin bày tỏ thái độ phê phán chính quyền Nga hoàng đã đẩy những người dân Nga vô tội vào cuộc chiến tranh với Thổ Nhĩ Kỳ - đó cũng là quan điểm của chính Tolstoy về vấn đề này. Và đặc biệt là những bế tắc trong cách giải quyết những vấn đề xã hội của nhân vật Levin cũng chính là những khủng hoảng tinh thần của ông ở ngoài đời.Trong chính giai đoạn viết Anna karenina nhà văn đã phải tạm dừng vì thấy công việc viết văn chỉ là nhũng hư cấu tưởng tượng không thiết thực với hoàn cảnh xã hội.Levin chạy trốn sự bế tắc bằng cách vin vào tôn giáo, đạo đức thì Tolstoy cũng vậy.Những khủng hoảng bế tắc này còn mãi tiếp diễn đến những năm sau khi nhà văn viết Phục sinh và có lẽ nó cũng ảnh hưởng đến cả  cái chết cô độc của nhà văn trên hành trình rời bỏ trại ấp của mình lúc cuối đời.
      Qúa trình xây dựng nhân vật phân tích nhân vật cũng chính là quá trình nhà văn phân tích mổ xẻ con người mình, để trung thực với mình. Quá trình sáng tạo ra nhân vật có lẽ cũng là quá trình tự tìm hiểu của nhà văn. Đọc tiểu sử ông, ta tưởng như ông căn cứ vào cuộc đời mình để đẻ ra nhân vật, rồi sau đó lại dựa vào nhân vật mà suy nghĩ, sống và tiến lên. Những yếu tố tự thuật này là những đường link nhập nhằng giữa đời thực và hư cấu, giữa tiểu sử nhà văn và tác phẩm nghệ thuật, tuy không làm cho người đọc rơi vào mê trận đến mức đồng nhất nhà văn với nhân vật  nhưng nó cũng góp phần tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm đồng thời giúp người đọc hiểu hơn về nhà văn. Nó phải chăng còn là những gợi ý cho những trò chơi kết cấu có sử dụng yếu tố tự thuật của các nhà văn hậu hiện đại sau này?
3.Tính chất triết luận, thuyết giáo:
Tính chất triết luận thuyết giáo có thể xem là hệ quả của tính sử thi và tự thuật ở trên. Tolstoy cũng như nhiều nhà văn đồng thời là nhà tư tưởng lớn khác thường đưa vào tác phẩm của mình những vấn đề triết luận, thuyết giáo.Đó vừa như là cách xây dựng nhân vật mở rộng biên độ tác phẩm vừa như là một sự phát ngôn không chính thức về tư tưởng, lập trường xã hội của mình. Trong Anna Karenina, những phát ngôn dạng này được thể hiện rải rác qua, suy nghĩ  của Levin và những đoạn đối thoại, tranh luận của chàng và các nhân vật khác. Nhất là  Ở đoạn cuối tác phẩm, sau khi lấy vợ, Chàng tưởng tìm thấy sự yên ổn và lòng yêu đời trong hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình. Nhưng cuộc đời chung quanh đang đầy rẫy mâu thuẫn tàn khốc và lương tâm chàng trở lại bị giày vò. Chàng tìm cách hướng về "tinh thần", chủ trương không đấu tranh, nhắm mắt làm ngơ trước thực tế xã hội tư bản và gắng tiếp tục truyền thống văn hóa cũ, lề lối sinh hoạt dân gian cũ. Chàng phản đối cách mạng, đi tới cùng đường bế tắc và chuyển những vấn đề xã hội sang vấn đề luân lý, đạo đức. Levin day dứt băn khoăn về ý nghĩa cuộc sống. Chàng là ai? Vì sao chàng sống? Sống để làm gì và sẽ đi đến đâu? Những câu hỏi đó ngày đêm thúc giục buộc chàng trả lời. Nhiều định kiến cũ phá sản trước thực tế tàn nhẫn. Đâu là chân lý mới? Chàng phản đối các nhà duy vật để đi tìm lẽ phải ở các triết gia duy tâm khác như Platon, Xpinoza, Cant, Senlin, Hegel, Sôpenhaoơ, nhưng chỉ cần những lý thuyết đó chạm phải thực tế là lập tức đổ sụp. Chàng hoang mang, chán đời, thấy mình chỉ là cái bong bóng xà phòng trong không gian và thời gian vô tận..Và những người nông dân đã chỉ cho chàng thấy ý nghĩa sống ở chỗ sống còn vì mọi người, ý nghĩa cuộc sống không phải trong sự hưởng thụ của xã hội thượng lưu đầy tội ác, mà trong việc làm điều thiện của nhân dân.  Trong những giáo lý, đạo đức của nhà thờ Cơ đốc đã bị hủ hoá, đã trở thành vũ khí mê hoặc và áp bức nhân dân của giai cấp thống trị, chàng muốn rút ra cái phần nhân đạo, vị tha, bác ái, để đưa thành thứ tôn giáo mới. Từ đó Levin rút ra kết luận: để chống lại điều ác, chỉ cần làm điều thiện là đủ.  Con người phải tin ở Chúa Trời, tin ở điều thiện, không cần lý trí vì chàng hiểu biết được sự thật là nhờ tín ngưỡng, chứ không phải nhờ lý trí. “.. Và cũng như những kết luận của các nhà thiên văn học sẽ trở nên hão huyền và lung lay nếu không dựa trên sự quan sát một bầu trời có thể trông thấy được từ một kinh tuyến duy nhất và một đường chân trời duy nhất, những kết luận của ta cũng sẽ hão huyền và lung lay như vậy nếu không dựa trên nhận thức về điều thiện trước sau như một đối với mọi người, cái nhận thức do đạo Cơ đốc vạch ra cho ta mà bao giờ cũng có thể kiểm tra ở trong tâm hồn ta được. Còn vấn đề những tín ngưỡng khác và mối liên hệ của chúng với ý Chúa, ta không có quyền và không có khả năng giải quyếtNhưng bất luận mọi điều có thể xảy đến, đời mình, cả cuộc đời mình, từng giây, từng phút, từ nay không còn trống rỗng vô nghĩa nữa, mình đã thấy được một ý nghĩa hiển nhiên và có thể đưa vào làm cho cuộc sống trọn vẹn: ý nghĩa của điều thiện". (Anna Karenina, NXB Văn học). Và cũng trên hệ tư tưởng tiêu cực đó mà chàng đã có ý kiến chống lại cuộc chiến tranh Xerbi, không thừa nhận một dúm người dám tự xưng thay mặt cho tư tưởng, ý chí toàn dân tộc để đi trả thù và sát hại một dân tộc khác. Chọn cho nhân vật con đường như vậy cũng thể hiện sự bế tắc trong thế giới quan của nhà văn.Về cơ bản Tolstoy luôn là người theo chủ nghĩa duy lý. Nhưng ở thời điểm ông viết những kiệt tác của mình chủ nghĩa duy lý trong ông đã giảm sút.Tolxtoi được dạy dỗ về tôn giáo trong không khí nên thơ của những buổi lễ chầu từ hồi nhỏ.  Bởi vậy ông cho tôn giáo là nguồn gốc chính nâng cao tinh thần, hiểu đúng đắn thế nào là thiện, ác. Nhà văn hạ thấp vai trò của lý trí và hết sức đề cao chân lý vĩnh cửu của tôn giáo. Con mắt nhận xét hiện thực nghiêm ngặt đã làm ông xa lánh Giáo hội chính thống hợp pháp cùng bộ máy chính quyền và quân đội của nhà nước phong kiến Nga. Ông đi vào thực tiễn để tìm chân lý nhưng lại trở về với thứ chủ nghĩa nhân đạo chung chung, duy thiện, đầy thần bí. Nó phản ánh những hạn chế trong tư tưởng của nhà văn.
Những triết luận thuyết giáo này tuy không hệ thống và được phát biểu như là tư tưởng của nhân vật nhưng những trang viết này cũng góp phần cho ta hiểu thêm bộ mặt tư tưởng của nhà văn,một con người có trách nhiệm với xã hội với thời đại nhưng chưa vượt qua được những hạn chế tất yếu của nó.
III. BIỆN CHỨNG TÂM HỒN

1. Lý thuyết về “Biện chứng tâm hồn”
Anna Karenina là một cuốn tiểu thuyết tâm lý đặc sắc. Thành công nghệ thuật nổi bật của tác phẩm là nghệ thuật miêu tả tâm lý bậc thầy của L.Tolstoy.
Nguồn gốc xã hội và tâm lý xuyên suốt là cơ sở chủ yếu tạo nên tính cách nhân vật đầy phức tạp, mâu thuẫn và biến đổi không ngừng trong các tác phẩm của Tolstoy. Ông luôn nhấn mạnh rằng tính cách con người luôn luôn vận động, nghệ sỹ phải biết nắm bắt những khoảnh khắc điển hình cho dòng vận động tâm lý, tính cách nhân vật.
Trong nhật ký của mình, Tolstoy đã trình bày một quan điểm nổi tiếng đó là “tính động” trong tâm lý nhân vật.
Trong tác phẩm văn học, tính động đã được biểu hiện một cách rõ ràng và sáng sủa. Ông nói.“Hắn (tức nhân vật) mãi mãi là chính mình, song hắn cư xử như một tên vô lại hay như một thiên thần; hoặc như một người thông minh hoặc một kẻ ngốc nghếch; hoặc như một người có sức mạnh phi thường hoặc một kẻ vô tích sự. Sẽ tốt biết bao nếu một tác phẩm văn học được kể theo cách này”.
Trên những chặng dường quanh co, phức tạp, tính cách nhân vật biến đổi không ngừng, muôn hình ngàn vẻ như sự đổi hướng của những con đường.      
Xem “Những con người như những dòng sông”, Tolstoy quan tâm đến quá trình tâm lý , những hình thức, những quy luật của nó, quá trình biện chứng tâm hồn. Tính biện chứng của tâm hồn không chỉ họa lại những biến chuyển này nọ, nảy sinh từ trong quá trình tâm lý con người mà còn là sự hiểu biết cái thực chất chính xác trong tính cách con người qua sự nhận thức được những mâu thuẫn nằm trong tính cách đó.
Tính biện chứng tâm hồn là sự diễn đạt tư tưởng, tình cảm, lòng say mê của con người trong mối quan hệ khăng khít qua lại ảnh hưởng lẫn nhau và đối lập với nhau; tóm lại là trong toàn bộ tính phức tạp của nó, trong tính biến đổi muôn màu muôn vẻ của nó. Trong nhân vật, một tư tưởng tình cảm bất ngờ nảy ra từ ấn tượng hoặc sự việc cụ thể nào đó được nhà văn dẫn dắt, gắn liền với kỷ niệm, ý nghĩ khác. Sợi dây chuyền liên tưởng này xe kết với nhau, quyện lại và biến thành tư tưởng, tình cảm khác mới hơn, sâu hơn, rồi lại trở về với xúc động, tâm tư ban đầu ở mức độ cao hơn, mạnh mẽ hơn và cứ thế nó tiếp tục thay đổi, chuyển hoá, phát triển không ngừng, lẫn lộn hư với thực, cảm giác với suy tưởng, hiện thực với ước vọng, quá khứ, hiện tại với tương lai...
Phép biện chứng tâm hồn không chỉ bó hẹp ở chỗ nêu lên kết quả hợp lý của một chặng đường diễn biến tâm lý, mà chính ở ngay trong từng bước trên suốt dọc đường diễn biến đó, với những nét biểu hiện tinh vi, sâu sắc, có khi chỉ thoáng qua mơ hồ mà không ngừng vận động phức tạp đối lập nhau và thống nhất với nhau, theo một tốc độ rất nhanh dưới các hình thức muôn hình muôn vẻ, chằng chịt lẫn nhau.
Một trong những thủ pháp quan trọng để xây dựng tính cách nhân vật với Tolstoy đó là thủ pháp nhập thân vào nhân vật để hiểu thấu đáo những chuyển động sâu kín ẩn náu trong ngõ ngách tâm hồn họ mà về sau ông gọi là “sự chuyển lưu” của các tính cách con người. Ông cho rằng nhà văn cần có cặp mắt đại bàng để có thể thấy rõ “các hiện tượng, các quan hệ giằng xé, đan chéo lẫn nhau, là ánh sáng và bóng tối, là cái hài, cái bi, cái xáo động cái khủng khiếp”. “Muốn được sinh động mỗi nhân vật phải có một tâm trạng” và “các tính cách đều vận động bởi thời gian và mỗi một trong các tính cách đều có cơ sở của nó, có hạt nhân của nó và vẫn giữ mãi trong mọi biến dạng”. B.Burxop  đã khẳng định: “Sức mạnh nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa Tolstoy chính là sự thâm nhập của bản chất quá trình xã hội vào quá trình tâm lý.”

2. Biện chứng tâm hồn trong  Anna Karenina
Đối với Tolstoy, không thể hiểu được con người nếu như không hiểu được bản chất tinh thần và đạo đức của con người. Từ đó, việc thâm nhập vào đời sống tâm lý con người đã trở thành một yêu cầu nghệ thuật không thể thiếu.
Anna là nhân vật nữ có lẽ được đầu tư nhiều tâm huyết nhất của L. Tolstoy. Bi kịch trong tâm hồn nàng nói lên gần như trọn vẹn hơn hết thảy các nhân vật khác của L.Tolstoy về phép biện chứng tâm hồn trong nghệ thuật tiểu thuyết của ông.
Xinh đẹp, sang trọng với một tâm hồn cao quý bí ẩn, Anna không bằng lòng với cuộc sống tẻ nhạt giả dối bên người chồng khô khan giả dối gần mười năm chà đạp lên sức sống mãnh liệt ở nàng. Bởi vậy, gặp Vronsky, chàng trai trẻ trung thẳng thắn, tính cách nồng nhiệt, nàng lao vào yêu như thiêu thân lao vào ánh lửa, bất chấp sự ruồng rẫy của cái xã hội thương lưu đã sinh ra nàng.  Song Anna không điều hòa được tình yêu với con trai và người tình. Áp lực gia đình, xã hội.. đẩy nàng vào tình thế tuyệt vọng. Tâm hồn Anna dấy lên những cơn sóng dữ dội. Những dằn vặt, giằng xé trong tâm hồn nàng biểu hiện trọn vẹn không những tính cách, tâm hồn, tình yêu của nàng, mà còn là cuộc đấu tranh trong tuyệt vọng của tình yêu dũng cảm trước xã hội thượng lưu giả dối, nhẫn tâm.
Nhưng trước hết, ta thấy ở Anna một tâm hồn dịu dàng, cao quý. Nàng đến Matxcova là để hòa giải mối quan hệ giữa anh trai và chị dâu. Nhưng trái ngược với suy nghĩ của Doly, Anna khong hề an ủi chị - bản thân Doly đã chán nghe những lời an ủi vô ích đó rồi. Vẻ quan tâm và yêu thương hiện rõ trên gương mặt nàng khiến Doly phải mềm lòng.
Cảm nhận đầu tiên của Kitty về Anna đó là “giản dị và cởi mở nhưng vẫn mang trong mình một thế  giới khác, một thế giới cao quý thơ mộng và phức tạp mà cô không thể với tới”, “Kitty bỗng nhận thấy trong mắt nàng cái thế giới bí mật còn khép kín đối với cô”.
Lần đầu gặp Vronsky, lòng Anna đã dấy lên những cảm giác xao xuyến, yêu mến. Lần thứ hai gặp Vronsky tại nhà anh trai, “một cảm giác kỳ lạ, vui mừng pha lẫn sợ hãi, hốt nhiên nàng xao xuyến”, liền sau đó là nàng băn khoăn và phật ý khi chàng vô cớ cố tình ghé qua nhà anh nàng, vì mọi người cho rằng đó là vì Kitty. Đến vũ hội, nàng đã hờn giận chàng, đã đắc thắng khi khiến chàng phải chú ý tới mình. Sự ngưỡng mộ của Vronsky khiến Anna say sưa, sung sướng. Vronsky cũng không còn vẻ bình tĩnh, tự tin và vô tư, trong mắt chàng là cả sự phục tùng và sợ sệt, trước sự kiều diễm kỳ lạ và ma quái cuả Anna. Lúc trở về với gia đình, Anna nghĩ đến Vronsky mà hổ thẹn, tự coi thường mình. Thế mà khi Vronssky xuất hiện, nàng lại vui sướng tự hào. “Tại sao tôi tới Matxcơva? Bà cũng biết là để được có mặt ở chỗ nào có bà; tôi không thể làm khác được’’. Chàng đã nói đúng những lời tâm hồn nàng khao khát, nhưng lý trí lại e sợ. Nàng không đáp và chàng đọc được trên nét mặt nàng cả cuộc đấu tranh đang diễn ra trong nàng. Từ đó, tâm trạng căng thẳng dày vò nàng. Trạng thái thần kinh căng thẳng cùng những giấc mơ tràn ngập trí tưởng tượng đều không có gì khó chịu với nàng, trái lại chúng vừa vui vẻ, nồng cháy, lại vừa phấn chấn.
Chi tiết cho thấy sự thấu hiểu sâu sắc của nhà văn đối với người phụ nữ tinh tế ấy là chi tiết miêu tả cái cảm giác sửng sốt, bất mãn với bản thân của nàng khi trông thấy chồng với đôi tai to, khuôn mặt lạnh lùng và nụ cười châm biếm của chồng. Dường như nàng mong được gặp ai khác kia. Cảm giác này tồn tại từ lâu trong mối quan hệ của nàng với chồng, song từ khi những cảm giác mới mẻ xuất hiện cùng Vronsky, nàng mới nhận ra chúng, và nàng tha thiết buồn. Trở về từ Matxcowva, nàng cũng không còn có thể chịu nổi nhóm bạn thượng lưu trước đây của nàng nữa. Tât cả đều gò bó và buồn chán, khó chịu đối với Anna.
Nàng năng lui tới các vũ hội để có thể gặpVronsky. Một mặt, nàng vừa cố gắng không tạo điều kiện cho chàng thổ lộ tình yêu, mặt khác lại vui sướng: tâm hồn nàng bừng cháy một cảm giác dạt dào. Hễ thoáng thấy chàng  là niềm vui bừng lên trong khóe mắt, buộc đôi môi nàng phải mỉm cười và nàng không thể giấu niềm vui đó được.
Tâm trạng trái ngược đó trong lòng người thiếu phụ lúc tình yêu chớm bắt đầu trong lòng quả thực phức tạp: chúng đối chiều nhau, mâu thuẫn mà lại cùng phát triển. Càng yêu, tâm hồn Anna càng bị dày vò. “trong khi nhớ chàng, nàng cảm thấy nỗi tủi nhục đang dày vò mình. “Thế là hết rồi. Em chỉ còn có mình anh. Anh hãy nhớ lấy”. Nàng cảm thấy lúc này không có lời nào tả xiết cái cảm giác  hổ thẹn, vui sướng và khiếp sợ tràn ngập tâm hồn nàng trươc khi bước vào cuộc đời mới…nàng không tìm ra những từ có thể giúp mình diễn tả hết cái phức tạp của tình cảm đó, mà thậm chí cũng không thể tìm lại được những ý nghĩ soi sáng cho bản thân mình hiểu thấu những điều đang diễn ra trong lòng mình nữa.
Và tình yêu cả họ lớn dần. Đó là cả một quá trình thay đổi mạnh mẽ trong tâm hồn Anna. Những chuyển biến nhỏ nhất trong tâm hồn nàng đều được nhà văn lọc kỹ, soi thấu bằng con mắt của đại bàng. Anna công khai thách thức chồng và cả xã hội thượng lưu: “Tôi hoảng hốt, nhưng tôi yêu chàng. Mình làm gì được tôi nào". Nàng ngẩng cao đầu kiêu hãnh nhưng đau khổ trước sự nhục mạ công khai của đám đàn bà thượng lưu từng ghen ghét với sự đoan chính trước đây của nàng. Tuy căm ghét nó, nhưng Anna không thể từ bỏ nó. Muốn ly dị chồng để đến vơi Vronsky, nhưng Anna không chấp nhận cái giá là phải xa con; bản tính thẳng thắn cũng không cho phép nàng sống giả dối, có nhân tình mà ra vẻ đức hạnh như những người đàn bà khác vẫn làm. Anna yêu con và người tình và không thể mất cả hai. Cả hai con người đó nàng đều yêu tha thiết và yêu hơn chính bản thân mình, Xerioja và Vronsky. Bi kịch của nàng là ở chỗ nàng không thể có cả hai và mất một trong hai.
Rời xa con để đến với người tình, Anna bị nỗi thương nhớ con giày vò. Nàng coi đó như cái giá phải trả quá đắt cho tình yêu của nàng. Và với nàng lúc ấy, Vronsky là tất cả: nàng đã đánh đổi tất cả để có chàng: gia đình, đứa con trai yêu, danh vọng, địa vị trong xã hội. Do đó, nàng cũng đòi hỏi ở chàng một sự đền bù xứng đáng với sự hi sinh đó: tất cả tình yêu trọn vẹn của chàng. Và vì vậy nàng chỉ còn chăm lo cho dung mạo đẹp đẽ để chiều chuộng, níu kéo chàng. Từ một người phụ nữ thông minh, lịch lãm, Anna rơi vào một tình yêu vị kỷ, tầm thường, đầy dằn vặt. Bi kịch là không thể tránh khỏi.
Độc thoại nội tâm là biện pháp chủ yếu và độc đáo nhất trong nghệ thuật tâm lý của nhà văn. Trên quá trình phát triển hành động của nhân vật, nhà văn thường dùng độc thoại để làm nổi bật tính cách. Độc thoại nội tâm góp phần làm nổi bật tính cách của Anna nhất là trong những phút giây căng thẳng gay gắt nhất lúc đứng trước quyết định tự vẫn: “Không, ta không cho phép người ta làm ta đau khổ như thế này đâu”. Lời đe dọa ấy không phải nói với nàng mà với người làm nàng đau khổ. “Lạy chúa, ta đi đâu bây giờ?...Ta sẽ trừng phạt anh ta và sẽ thoát khỏi mọi người, thoát khỏi bản thân ta…Ta ở đâu thế này? Ta làm gì thế này? Tại sao vậy?..Lạy chúa, hãy tha thứ tất cả cho con” .
Trước đoàn tàu đang rầm rập lao về phiá mình, cơn bão tố nổi lên trong lòng nàng: khát vọng tình yêu, nỗi tuỵêt vọng, ham muốn ích kỷ được trả thù tình yêu và người yêu…Tình yêu và nỗi đau, tính cách cao thượng và sự toan tính trong tuyệt vọng...quấn chặt lấy tâm hồn nàng…Không ở đâu, khi nào trong tâm hồn con người cuồn cuộn một dòng chảy mãnh liệt của những cung bậc cảm xúc tinh tế và phức tạp cho bằng bi kịch con người và nỗi tuyệt vọng khi đứng trước cái chết. Anna đã đối diện với mình, với tận cùng thẳm sâu tâm hồn mình ở cái phút giây cuối cùng ấy. Nàng đã chọn cái chết khi không thể chịu đựng nổi sự giằng xé đau đớn của tâm hồn mình. L.Tolstoy đã không trách cứ Anna. Bằng việc sọi rọi vào nỗi đau của nàng, nhà văn đã bày tỏ một sự thương cảm sâu sắc đối với người phụ nữ bất hạnh ấy.
Ngay cả một con người có vẻ đơn giản như Karenin cũng những dòng chảy tâm tư đầy xáo động. L.tolstoy không hề vì thương yêu Anna mà dành cho Karenin một tâm hồn cằn cỗi, nghèo nàn, đáng ghét.
Trung thành với tư tưởng tôn giáo, ông cho chúng ta thấy Karenin cũng có thể đổi mới tâm hồn, có thể làm những việc cao thượng. Đó là khi Karenin ở bên giường bệnh Anna, tha thứ cho vợ và dàn hòa với Vronxki. Karenin sung sướng vì đã tha thứ và yêu thương kẻ thù, đúng như lời Chúa từng răn dạy. Nguồn gốc mọi đau khổ trở thành nguồn gốc của vui vẻ thảnh thơi trong lòng. L.Tolstoy muốn chứng minh rằng Karenin hoàn toàn có thể thay đổi tinh thần: “Ông không hề nghĩ luật lệ đạo Giato mà suốt đời ông không muốn theo, đã ra lệnh cho ông phải tha thứ và yêu thương kẻ thù địch, nhưng một tình cảm yêu thương và khoan dung xán lạn tràn ngập tâm hồn ông”.
 “Tôi đã tha thứ cho nàng, và niềm hạnh phúc trong sự khoan dung vạch cho tôi thấy bổn phận mình. Tôi đã tha thứ cho nàng không chút dè dặt.Tôi muốn chìa má bên kia, cho nốt sơ mi khi người ta lấy mất của tôi cái áo choàng. Tôi chỉ cầu Chúa để người đừng tước đi của tôi cái hạnh phúc nằm trong sự khoan dung..Tôi sẽ không bỏ nàng và không trách ông lời nào”.
Nhưng, trên con đường đổi mới tinh thần của Karenin đã hiện ra một trở lực, đó là sức mạnh thô bạo của xã hội thượng lưu. Việc tha thứ cho vợ làm ông trở thành người khác thường, vượt lên trên xã hội; nhưng chung quanh, mọi người vẫn sống như cũ. Karenin trở thành lẻ loi, nhục nhã. Thế là ông giữ lại cái tư cách một người hèn hạ, độc ác như cũ, không thể tự mình đổi mới tinh thần.
Cái anh chàng Vronsky  trẻ trung, hãnh tiến “chỉ hiểu được những vấn đề thô tục và vật chất thôi”, chỉ ham mê gái gú, cờ bạc, danh vọng ấy cũng vì tình yêu với Anna mà thay đổi..chí ít ra cũng cao thượng hơn đám thanh niên cùng thời, biết tự ghê tởm mình “rất sạch, rất khỏe và hợm hĩnh, có thế thôi”.
Anh ta hoàn toàn không phải là một công tử quý tộc sa đọa, tâm hồn giản đơn. Vronsky từng tự tử hụt vì đau khổ và nhục nhã trước sự quay lưng của Anna và thấy mình hèn mọn trước sự cao thượng cảu Karenin. Sau cái chết của Anna, Vronsky trốn chạy, không phải là khỏi cái nơi ghi dấu kỉ niệm đau đớn của mình, mà chính là chạy trốn tâm hồn mình, vừa đau đớn xót thương, vừa ân hận, vừa nuối tiếc...
Cả Vronsky và Karenin đều không xứng đáng với Anna. Tuy vậy, họ không phải là những nhân vật giản đơn, một chiều. L.Tolstoy đã cho chúng ta thấy sự vận động đổi thay trong tâm hồn họ trước những biến cố của cuộc đời. Không chỉ vận động tiệm tiến, những nét tính cách trong các nhân vật còn vận động trái chiều, mâu thuẫn nhau, vượt lên nhau và chi phối các nét tính cách còn lại.
Ngoài Anna, Levin là một nhân vật thành công khác của Tolstoy trong tác phẩm, thậm chí nhâ vật này có phần vượt trội hơn cả Anna trên phương diện tinh thần. Levin là hiện thân của con người tư tưởng nhà văn, hình ảnh của nhà văn, là kẻ có lúc đã muốn tự tử khi bế tắc trong tư tưởng. Từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật này không ngừng trăn trở. Tâm hồn anh ta xáo động không ngừng, tinh vi, được nhà văn soi rọi một cách tỉ mỉ, sâu sắc. Chính chàng là người duy nhất đã nhận ra vẻ đẹp sâu sắc trong tâm hồn bí ẩn của Anna và lo sợ rằng kẻ nông cạn, hời hợt như Vronsky không thể làm nàng hạnh phúc. Levin cũng là người đàn ông rất có trách nhiệm, trân trọng bổn phận với gia đình, coi chuyện hôn nhân là đại sự cực kỳ nghiêm túc. Chính  vì vậy mà chàng có lần thầm trách nhầm vợ là người nông cạn, hẹp hòi chỉ biết những chuyện tầm thường của đàn bà con gái mà không chú ý đến những việc làm lớn lao hơn.
Ngoài xã hội, Levin luôn suy nghĩ tìm đường đi đúng đắn giữa xã hội đang đầy rẫy mâu thuẫn, khủng hoảng trầm trọng, không ngừng tác động vào cuộc sống riêng tư. Levin ngày đêm canh cánh lo cho cuộc sống thay đổi. Chàng hoang mang, chán đời, thấy mình chỉ là cái bong bóng xà phòng trong không gian và thời gian vô tận. Điều đó xuất phát từ tâm hồn sâu sắc, trí tuệ mẫn tiệp, lịch lãm của chàng. Tâm tư chàng luôn bị giày vò, hết nghi ngờ, hoang mang rồi lại hối hận, tự trách mình. Chàng khao khát và cố gắng giành lấy cuộc sống sung sướng hơn, tốt đẹp hơn, bằng lao động và đấu tranh, bằng tình thương yêu và sự suy nghĩ.
Levin luôn day dứt băn khoăn về ý nghĩa cuộc sống. Là người thẳng thắn, rất nhạy cảm và phản ứng cũng rất nhanh với mọi thay đổi trong đời sống xung quanh, chàng luôn bất mãn với hiện thực, luôn lo lắng tìm hiểu chân lý và hạnh phúc ở đâu? Chàng là ai? Vì sao chàng sống? Sống để làm gì và sẽ đi đến đâu? Đâu là chân lý ? Những câu hỏi đó ngày đêm thúc giục buộc chàng trả lời. Nhiều định kiến cũ phá sản trước thực tế tàn nhẫn. Chàng tưởng tìm thấy sự yên ổn và lòng yêu đời trong hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình. Nhưng cuộc đời chung quanh đang đầy rẫy mâu thuẫn tàn khốc và lương tâm chàng trở lại bị giày vò. Chàng luôn có cảm giác bế tắc như đứng trước những con đường cùng. Tất cả chặng đường phát triển về tinh thần của nhân vật là cuộc đấu tranh nội tâm gay go, phức tạp. Tâm lý nhân vật này được nhà văn diễn tả hết sức sâu sắc, tinh tế với những vận động mạnh mẽ và cũng nhiều lúc trái chiều, đầy đối lập.
Levin là con người của tư tưởng, không ngừng suy nghĩ, không ngừng bị dằn vặt bởi lương tâm, trách nhiệm. Khai thác tâm hồn nhân vật này một cách sâu sắc, L.Tolstoy đã khắc họa chân dung tư tưởng của chính mình, một tiểu thuyết gia có tư tưởng mang tầm vóc thời đại. Có thể nói, trong Anna Karenina, Levin là nhân vật nhiều trăn trở băn khoăn, dằn vặt nhất. Đó là con người không ngừng vận động tư tưởng, con người của tinh thần phong phú, tinh tế và sâu sắc.
Mục đích của nghệ thuật chính là biểu hiện, nói lên sự thật về tâm hồn con người, nói lên những điều bí ẩn mà không bao giờ có thể nói lên được bằng những lời giản đơn…nghệ thuật chính là chiếc kính hiển vi hướng nghệ sĩ soi rọi vào những bí ẩn của tâm hồn (L.Tônxtôi). Với tuyên ngôn nghệ thuật đó, Lev Tolstoy đã trở thành bậc thầy nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật. Cách phân tích tâm lý của ông đã khiến cho ông trở nên một nhà văn viết tiểu thuyết lớn lao bậc nhất. Theo Matthew Arnold, một tiểu thuyết của Lev Tolstoy không những là một tác phẩm mà còn là một "mảnh đời” và theo Isaak Babel, một tác giả người Nga thuộc thế kỷ 20, “ nếu thế gian tự nó có thể viết ra được, thì nó sẽ kể lại giống như Tolstoy đã làm”.
Câu nói cuối cùng của Lev Tolstoy trên cõi đời này, chính  là: "Sự Thật . . . tôi yêu lắm” . Với những gì ông đã làm được với tiểu thuyết, Leo Tolstoy được coi là hiện thân của lương tâm thế giới. Nhân loại sẽ không bao giờ quên đóng góp của ông đối với nền văn học thế giới, Chiến tranh và hòa bình Anna Karenina.          

IV. Kết Luận
Anna Karenina với những giá trị nội dung sâu sắc đã không chỉ giúp người đọc thông cảm  hơn cho số phận bi kịch của người phụ nữ và những trăn trở băn khoăn của trí thức trước thời đại đầy biến động mà còn cho thấy một bức tranh hiện thực sống động  về những vấn đề xã hội to lớn và cấp bách của  xã hội Nga những năm 70. Tác phẩm một lần nữa đã khẳng định tài năng tiểu thuyết bậc thầy của Tolstoy trong việc phản ánh  hiện thực đời sống xã hội Nga và nghệ thuật miêu tả “biện chứng tâm hồn” con người cũng như thể hiện một cách trọn vẹn đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực Nga trên giai đoạn  đỉnh cao.